Ba đột phá chiến lược và những bước tiến trong nhiệm kỳ mới

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng - Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương - cho biết: So với Văn kiện Đại hội XIII, nội hàm của ba đột phá chiến lược trong Văn kiện Đại hội XIV đã có những bước tiến triển và cụ thể hóa sâu sắc hơn.

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng - Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương - thông tin về ba đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: BTC

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng - Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương - thông tin về ba đột phá chiến lược trong nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: BTC

Điểm mới của ba đột phá chiến lược

Cụ thể, theo đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, về thể chế, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh chuyển từ tư duy “quản lý hành chính” sang “quản trị quốc gia, quản trị phát triển”. Tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý, kiến tạo không gian cho đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất lao động.

Về nguồn lực, Văn kiện Đại hội lần này không chỉ dừng lại ở thị trường lao động linh hoạt mà hướng tới phát triển toàn diện con người. Đặc biệt chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế và quan tâm đến cả cán bộ cấp cơ sở (xã, phường) thay vì chỉ tập trung vào cấp chiến lược như trước.

Về kết cấu hạ tầng, Đại hội lần này nhấn mạnh phát triển hạ tầng hiện đại, đồng bộ và đa phương thức: Không chỉ có đường bộ, đường sắt mà còn bao gồm hạ tầng năng lượng, hạ tầng số và hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đổi mới trên mọi lĩnh vực

Thông tin tới báo chí, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng cho biết, Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh đến đổi mới tư duy mang tính đột phá trong mọi mặt, từ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng, hệ thống chính trị.

Tất cả các lĩnh vực phải đổi mới, đột phá về tư duy. Việt Nam muốn vươn tầm và để thực hiện được mục tiêu trong kỷ nguyên mới thì bắt buộc phải đổi mới tư duy và phải có cách làm mới.

Sức mạnh tổng hợp quốc gia trước hết nằm ở sức mạnh về kinh tế. Cho nên, Việt Nam đặc biệt chú ý đến việc xác lập mô hình tăng trưởng mới. Mô hình tăng trưởng mới này đặc biệt chú trọng khoa học công nghệ, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Có như vậy mới tạo ra năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.

Chúng ta không thể chỉ tăng trưởng dựa trên các nguồn lực đầu vào, các lợi thế so sánh bậc thấp như lao động, tài nguyên, đất đai mặc dù những động lực truyền thống ấy cũng phải được làm mới bằng khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, chứ không phải là chỉ có phát triển theo kiểu cũ.

Điều quan trọng là phải đặc biệt quan tâm đến năng suất lao động, năng suất nhân tố tổng nhân tố (TFP). Cốt lõi của vấn đề chính là khoa học – công nghệ, là năng suất, là việc ứng dụng công nghệ,nhất là trong các lĩnh vực mới như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; tận dụng lợi thế của một quốc gia đi sau để phát triển các ngành công nghệ mũi nhọn như công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và xa hơn là các công nghệ lượng tử. Không thể tiếp tục phát triển theo cách làm cũ, mà phải đổi mới tư duy và mô hình tăng trưởng để đạt được mục tiêu đề ra.

Theo đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, xây dựng và phát triển đất nước luôn gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là một quy luật xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, phát triển kinh tế - xã hội phải luôn kết hợp chặt chẽ với tăng cường quốc phòng, an ninh. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, Việt Nam đặc biệt nhấn mạnh tinh thần tự cường không chỉ trong lĩnh vực đối ngoại mà còn trong quốc phòng và an ninh. Theo đó, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh được tăng cường toàn diện cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, với phương châm chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Để thực hiện được mục tiêu đó, ưu tiên hàng đầu của là đổi mới và hoàn thiện thể chế.Trước hết là hoàn thiện thể chế của hệ thống chính trị, đặc biệt là mô hình tổ chức chính quyền địa phương các cấp; tăng cường vai trò lãnh đạo; xử lý tốt mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, đồng thời phát huy sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Thứ hai là hoàn thiện hệ thống pháp luật. Thứ ba là tạo ra đột phá về con người, xây dựng đội ngũ nhân lực đủ năng lực, bản lĩnh để gánh vác những sứ mệnh của giai đoạn phát triển mới.

Nếu thực hiện tốt các trọng tâm, ưu tiên này, mục tiêu tăng trưởng sẽ đạt được. Thực tiễn đã cho thấy, riêng năm 2025, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn như bão lũ, thiên tai, nhưng tốc độ tăng trưởng vẫn đạt 8,2%. Hiện nay có 6 tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng trên 10%, trong đó có tỉnh đạt từ 12% đến 13,3%; 20 tỉnh đạt mức tăng trưởng trên 8%, thậm chí 9%. Điều đó cho thấy dư địa và nguồn lực cho phát triển là rất lớn nếu chúng ta giải quyết tốt các vấn đề đặt ra.

Bộ Chính trị đã ban hành các nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là những giải pháp rất cụ thể, mới mẻ và mang tính đột phá về tư duy, phù hợp với tinh thần của Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và sau Đại hội sẽ được triển khai một cách bài bản, đồng bộ./.

THÀNH ĐỨC

Nguồn Kiểm Toán: http://baokiemtoan.vn/ba-dot-pha-chien-luoc-va-nhung-buoc-tien-trong-nhiem-ky-moi-45659.html