Bắc Ninh bước vào chương mới: Khi quy mô mới đòi hỏi một chất lượng phát triển mới
Từ ngày 20/9/2026, Bắc Ninh chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Phía sau dấu mốc về địa vị hành chính là yêu cầu lớn hơn đối với một địa phương đã có nền công nghiệp quy mô lớn: nâng chất lượng tăng trưởng, củng cố nội lực kinh tế, phát triển đô thị và nguồn nhân lực, đồng thời bảo tồn những giá trị văn hóa làm nên bản sắc Kinh Bắc.
Sáng 19/9, tại Bắc Ninh diễn ra Lễ công bố Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Bắc Ninh và đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất. Một ngày sau lễ công bố, Nghị quyết số 39/2026/QH16 chính thức có hiệu lực, đưa Bắc Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số của tỉnh Bắc Ninh. Thành phố mới có diện tích 4.713,75 km², dân số gần 4 triệu người và 99 đơn vị hành chính cấp xã.
Quy mô ấy đưa Bắc Ninh vào một không gian phát triển rộng hơn, với các mối liên kết trực tiếp với Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Lạng Sơn, Quảng Ninh và Thái Nguyên. Nhưng điều đáng chú ý hơn nằm ở chỗ địa phương bước vào vị thế mới khi nền kinh tế đã có một nền tảng công nghiệp rất lớn.
Sáu tháng đầu năm 2026, GRDP của Bắc Ninh tăng 10,56%; công nghiệp - xây dựng tăng 12,5% và chiếm 70,1% cơ cấu kinh tế. Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 106,4 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 52,5 tỷ USD, tăng 31,49% và đứng đầu cả nước. Những con số này cho thấy Bắc Ninh không còn chỉ là một địa phương thu hút sản xuất công nghiệp, mà đã trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trao Nghị quyết của Quốc Hội về thành lập thành phố Bắc Ninh cho Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bắc Ninh. Ảnh: BBN
Nhưng chính quy mô ấy cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi cách nhìn về động lực tăng trưởng. Khi công nghiệp - xây dựng đã chiếm phần lớn cơ cấu kinh tế, câu chuyện của Bắc Ninh không còn đơn thuần là tiếp tục mở rộng sản xuất hay thu hút thêm các dự án lớn. Điều quan trọng hơn là làm thế nào để nâng tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước, giúp doanh nghiệp nội địa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, đồng thời từng bước hình thành năng lực công nghệ và những ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao ngay trên địa bàn.
Đây cũng là điểm nổi bật trong 6 nhiệm vụ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra tại lễ công bố. Trong đó, yêu cầu xây dựng nội lực kinh tế, từng bước làm chủ công nghệ, nâng vị trí trong chuỗi giá trị và thu hút đầu tư có chọn lọc cho thấy giai đoạn phát triển mới của Bắc Ninh sẽ không chỉ được nhìn bằng tốc độ tăng trưởng hay quy mô vốn đầu tư, mà còn bằng khả năng tạo ra và giữ lại nhiều hơn giá trị tại địa phương.
Từ lợi thế sản xuất đến năng lực tạo giá trị
Trong nhiều năm, lợi thế nổi bật của Bắc Ninh nằm ở khả năng thu hút các tập đoàn lớn, hình thành những cụm sản xuất điện tử quy mô lớn và tham gia ngày càng sâu vào mạng lưới xuất khẩu toàn cầu. Khu vực FDI đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, tạo ra sức bật cho sản xuất, xuất khẩu, việc làm và nguồn thu ngân sách.
Khi quy mô công nghiệp đã đủ lớn, câu hỏi đặt ra không còn chỉ là Bắc Ninh thu hút thêm được bao nhiêu dự án hay bao nhiêu tỷ USD vốn đầu tư. Vấn đề nằm ở chất lượng của những dòng vốn đó và khả năng lan tỏa sang khu vực doanh nghiệp trong nước: doanh nghiệp Việt Nam cung ứng được những gì, tham gia ở công đoạn nào, có thể tiếp nhận công nghệ đến đâu và bao nhiêu giá trị của chuỗi sản xuất được hình thành ngay tại địa phương.
Tại cuộc làm việc với tỉnh Bắc Ninh hồi tháng 7, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng cũng lưu ý cơ cấu kinh tế của địa phương còn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI, trong khi tỷ lệ nội địa hóa và năng lực doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng còn thấp. Định hướng được đặt ra là chuyển mạnh sang tăng trưởng chất lượng cao, phát triển công nghiệp công nghệ cao và nâng khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi giá trị.
Vì vậy, nhiệm vụ xây dựng nội lực kinh tế mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu ra có thể xem là một trong những vấn đề then chốt đối với Bắc Ninh trong giai đoạn mới. Theo đó, địa phương cần tiếp tục thu hút đầu tư nhưng theo hướng có chọn lọc, chú trọng khả năng hấp thụ công nghệ, tri thức và năng lực quản trị; đồng thời phát triển công nghiệp hỗ trợ, kết nối doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI và đưa doanh nghiệp Việt Nam vào những khâu có giá trị cao hơn.
Đây là quá trình không thể diễn ra trong một vài năm. Tuy nhiên, với nền sản xuất điện tử đã hình thành, hệ thống khu công nghiệp phát triển và kim ngạch xuất khẩu ở quy mô lớn, Bắc Ninh có cơ sở để đặt mục tiêu cao hơn về tỷ lệ nội địa hóa, năng lực cung ứng và hàm lượng công nghệ. Khi những doanh nghiệp trong nước có thể bước sâu hơn vào chuỗi sản xuất, lợi ích từ dòng vốn đầu tư sẽ không chỉ nằm ở số lượng nhà máy hay giá trị xuất khẩu, mà còn thể hiện ở năng lực công nghệ và sức cạnh tranh được tích lũy trong nền kinh tế địa phương.
Không gian phát triển lớn hơn, yêu cầu cũng cao hơn
Việc thành lập thành phố Bắc Ninh không chỉ làm thay đổi địa vị hành chính mà còn mở ra một không gian phát triển có quy mô gần 4.714 km² với dân số gần 4 triệu người. Trong không gian đó có các khu công nghiệp, đô thị, làng nghề, vùng sản xuất nông nghiệp, hệ thống di sản và những khu vực có điều kiện phát triển rất khác nhau.
Bởi vậy, nhiệm vụ đầu tiên được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra là xác lập tầm nhìn dài hạn và mô hình phát triển riêng, định vị rõ vai trò của Bắc Ninh trong 20-30 năm tới, dựa trên lợi thế về công nghiệp, văn hóa, con người và liên kết vùng. Tầm nhìn ấy phải được cụ thể hóa bằng quy hoạch, chương trình hành động, tiến độ và trách nhiệm thực hiện.
Yêu cầu này đặt Bắc Ninh trước một bài toán quy hoạch không đơn giản. Một địa phương có tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 70,1% nền kinh tế cần tiếp tục duy trì sức mạnh sản xuất, nhưng đồng thời phải phát triển hệ thống dịch vụ, logistics, thương mại và các thiết chế đô thị tương xứng với quy mô dân cư và hoạt động kinh tế. Nếu hạ tầng sản xuất phát triển nhanh hơn hạ tầng xã hội, lợi thế thu hút đầu tư về lâu dài có thể bị ảnh hưởng bởi chi phí giao thông, nhà ở, giáo dục, y tế và chất lượng môi trường sống.
Đó là lý do nhiệm vụ thứ ba được đặt ra theo hướng tổ chức lại không gian phát triển, xây dựng đô thị xanh, thông minh, hiện đại và đáng sống. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu Bắc Ninh ưu tiên hạ tầng liên kết vùng, chuẩn bị đồng bộ kết nối với Cảng hàng không quốc tế Gia Bình, đầu tư cho giao thông công cộng, nhà ở, trường học, bệnh viện, công viên và thiết chế văn hóa; đồng thời xử lý căn cơ ô nhiễm tại các khu công nghiệp, làng nghề và lưu vực sông.
Với Bắc Ninh, đây là những vấn đề gắn trực tiếp với năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Một trung tâm công nghiệp muốn thu hút các dự án công nghệ cao không chỉ cần mặt bằng và hạ tầng kỹ thuật mà còn cần khả năng kết nối nhanh với các trung tâm kinh tế, nguồn nhân lực chất lượng cao và một môi trường sống đủ sức giữ chân người lao động, chuyên gia. Cảng hàng không quốc tế Gia Bình cùng các tuyến giao thông liên vùng vì thế có ý nghĩa không chỉ về giao thông mà còn đối với việc mở rộng không gian logistics, thương mại và dịch vụ của thành phố mới.
Bộ máy phải theo kịp không gian mới
Một không gian kinh tế lớn hơn cũng đặt ra yêu cầu khác đối với quản trị. Nhiệm vụ thứ tư mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh là xây dựng bộ máy quản trị và đội ngũ cán bộ tương xứng với vị thế mới, theo hướng thống nhất, khoa học, tinh gọn, gần dân, hiểu dân và phục vụ dân; trong tổ chức thực hiện phải rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ nguồn lực và rõ kết quả.
Đối với Bắc Ninh, yêu cầu này càng đáng chú ý khi địa bàn mới bao gồm cả những khu vực có tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa rất nhanh với những địa bàn nông thôn, làng nghề và sản xuất nông nghiệp. Một mô hình quản trị hiệu quả phải xử lý được sự khác biệt ấy, vừa tạo điều kiện cho những cực tăng trưởng phát huy lợi thế, vừa bảo đảm các khu vực khác không đứng ngoài quá trình phát triển.
Cùng với bộ máy là vấn đề nhân lực. Nhiệm vụ thứ năm yêu cầu Bắc Ninh gắn đào tạo với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhu cầu của doanh nghiệp và các ngành công nghệ mới, đồng thời có chính sách thu hút, trọng dụng kỹ sư, chuyên gia, nhà khoa học và nhà quản lý giỏi.
Đây là yêu cầu đặc biệt rõ đối với một địa phương đang hướng tới những lĩnh vực như điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, logistics và công nghiệp công nghệ cao. Những ngành này cần lực lượng lao động có trình độ kỹ thuật và khả năng tiếp nhận công nghệ mới; nếu chỉ dựa vào nguồn nhân lực phổ thông, Bắc Ninh sẽ khó nâng vị trí của mình trong chuỗi giá trị dù quy mô sản xuất tiếp tục tăng.
Đưa giá trị Kinh Bắc vào nền kinh tế mới
Câu chuyện nhân lực trong định hướng phát triển Bắc Ninh còn gắn với một nguồn lực khác: văn hóa. Trong nhiệm vụ thứ năm, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị đưa Quan họ, tranh Đông Hồ, làng nghề, di tích, truyền thống hiếu học và văn hóa cộng đồng vào đời sống hiện đại, qua đó biến di sản thành nguồn lực cho công nghiệp văn hóa, du lịch và kinh tế sáng tạo.

Từ ngày 20/9, Bắc Ninh chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Ảnh: VG
Đây là hướng đi có thể tạo thêm một lớp động lực cho nền kinh tế vốn đang dựa nhiều vào công nghiệp chế biến, chế tạo. Bắc Ninh có những tài sản văn hóa đã được nhận diện rộng rãi, trong đó Dân ca Quan họ được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại; cùng với đó là hệ thống di tích, làng nghề và không gian văn hóa Kinh Bắc.
Điều quan trọng là quá trình khai thác những giá trị này phải đi cùng bảo tồn. Nếu được tổ chức thành các sản phẩm du lịch, dịch vụ văn hóa và sản phẩm sáng tạo có chất lượng, di sản có thể tạo thêm việc làm, thu nhập và sức hút cho thành phố; ngược lại, việc thương mại hóa thiếu kiểm soát có thể làm giảm chính giá trị khác biệt mà Bắc Ninh đang sở hữu.
Từ câu chuyện văn hóa, nhiệm vụ thứ sáu được đặt ra ở một điểm rất cụ thể: đời sống của người dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, nhà ở và các dịch vụ thiết yếu, đặc biệt đối với công nhân, người lao động và các địa bàn còn khó khăn; đồng thời bảo đảm phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn, không đánh đổi sức khỏe người dân, môi trường và tương lai các thế hệ lấy tăng trưởng trước mắt.
Đặt trong điều kiện Bắc Ninh là một trung tâm sản xuất công nghiệp lớn, yêu cầu này có ý nghĩa trực tiếp đối với chất lượng tăng trưởng. Hàng trăm nghìn lao động trong các khu công nghiệp cần không chỉ việc làm mà còn nhà ở, trường học, y tế, giao thông và những dịch vụ thiết yếu; trong khi các khu vực nông thôn và làng nghề cần được kết nối với không gian kinh tế mới để người dân có thêm cơ hội nâng cao thu nhập.
Từ ngày 20/9, Bắc Ninh sẽ mang vị thế hành chính mới. Nhưng giá trị của bước chuyển này sẽ không chỉ nằm ở quy mô địa giới hay tên gọi của một đơn vị hành chính. Với nền công nghiệp đã hình thành, kim ngạch xuất khẩu ở quy mô lớn và mạng lưới doanh nghiệp FDI sâu rộng, yêu cầu đặt ra cho thành phố mới là phải tạo được thêm những lớp giá trị phía sau năng lực sản xuất hiện có.
Đó là tỷ lệ giá trị nội địa cao hơn, doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, năng lực công nghệ được tích lũy nhiều hơn, dịch vụ và logistics phát triển tương xứng với sản xuất, cùng một hệ thống đô thị có khả năng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.
Nếu những yêu cầu ấy được chuyển thành các chương trình và kết quả cụ thể, việc trở thành thành phố trực thuộc Trung ương sẽ không chỉ là một dấu mốc về tổ chức hành chính. Khi đó, quy mô gần 4 triệu dân, nền công nghiệp lớn và những giá trị văn hóa Kinh Bắc sẽ cùng được đặt trong một mô hình phát triển có khả năng tạo ra nhiều giá trị hơn cho địa phương và đóng góp lớn hơn cho nền kinh tế cả nước.
