Bắc Ninh: Phát triển kinh tế nông nghiệp hiện đại
Từ nền sản xuất nông nghiệp truyền thống, Bắc Ninh đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại không gian và phương thức phát triển để thích ứng với quá trình đô thị hóa. Trọng tâm không chỉ là nâng năng suất mà phải chuyển mạnh sang kinh tế nông nghiệp đô thị, công nghệ cao, gia tăng giá trị trên từng đơn vị diện tích, đồng thời tạo dư địa để hợp tác xã và nguồn nhân lực trẻ tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Tổ chức lại không gian, gia tăng giá trị
Việc trở thành thành phố mở ra không gian phát triển mới cho Bắc Ninh, song cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với nông nghiệp. Quỹ đất canh tác thu hẹp, tốc độ đô thị hóa nhanh cùng tác động ngày càng phức tạp của biến đổi khí hậu đòi hỏi phải thay đổi cách thức tiếp cận. Nếu chỉ tập trung vào sản lượng và mở rộng quy mô sản xuất, nông nghiệp khó có thể tạo ra giá trị tương xứng với nguồn lực đất đai và lao động. Chuyển từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp đô thị, công nghệ cao” vì vậy trở thành yêu cầu tất yếu trong định hướng phát triển mới.

Mô hình sản xuất dưa leo ứng dụng công nghệ cao của Hợp tác xã Rau sạch Yên Dũng (phường Cảnh Thụy). Ảnh: Dương Hoàn
Thực tế, nông nghiệp Bắc Ninh đã có nền tảng quan trọng để thực hiện bước chuyển này. Theo đại diện Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bắc Ninh, năm 2025, giá trị sản xuất toàn ngành theo giá hiện hành đạt hơn 60,1 nghìn tỷ đồng; thu nhập bình quân trên một đơn vị diện tích canh tác đạt 140 triệu đồng/ha/năm. Toàn tỉnh có hơn 1.600 cơ sở ứng dụng công nghệ cao, đưa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm trên 30% toàn ngành. Những con số này cho thấy ứng dụng công nghệ đã từng bước đi vào sản xuất. Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để công nghệ không chỉ dừng ở từng mô hình, từng cơ sở mà trở thành động lực tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp.
Trên nền tảng Quy hoạch chung đô thị Bắc Ninh đến năm 2050, tầm nhìn đến năm 2075 và Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, ngành Nông nghiệp và Môi trường tập trung tham mưu, triển khai các giải pháp mang tính nền tảng. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là tổ chức lại không gian sản xuất, gắn phát triển nông nghiệp với cấu trúc đô thị. Ba phân vùng gồm nông nghiệp chất lượng cao, nông nghiệp ven đô và nông nghiệp sinh thái được định hướng theo những chức năng phù hợp, qua đó vừa duy trì sản xuất, vừa góp phần hình thành vành đai sinh thái cho đô thị.
Cùng với quy hoạch không gian, cách thức hỗ trợ nông nghiệp cũng cần thay đổi. Thay vì chủ yếu hỗ trợ đầu vào, chính sách được định hướng vào nâng cao chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. VietGAP, GlobalGAP, OCOP, xây dựng thương hiệu, chế biến và truy xuất nguồn gốc cần được đặt trong một chuỗi liên kết, từ sản xuất đến tiêu thụ.
Đây cũng là nền tảng để hình thành lớp “nông dân số”, “nông dân chuyên nghiệp”, có khả năng tiếp cận công nghệ, dữ liệu và phương thức kinh doanh hiện đại. Trong nền kinh tế nông nghiệp, người sản xuất không chỉ cần biết làm ra sản phẩm mà còn phải hiểu thị trường, tiêu chuẩn chất lượng, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và phương thức đưa sản phẩm đến người tiêu dùng.
Một điểm nghẽn khác cần được xử lý là tình trạng sản xuất manh mún. Tích tụ đất đai, cơ giới hóa và thu hút đầu tư chiến lược được xác định là những giải pháp quan trọng để tạo điều kiện hình thành vùng sản xuất có quy mô và hiệu quả cao hơn.
Theo định hướng này, thu hút đầu tư vào nông nghiệp cũng phải có trọng tâm, trọng điểm. Bắc Ninh ưu tiên những doanh nghiệp có tiềm lực trong nông nghiệp công nghệ cao, chế biến sâu, kho lạnh, logistics; đồng thời chú trọng các dự án tiết kiệm tài nguyên, có giá trị gia tăng cao và khả năng liên kết chặt chẽ với nông dân, hợp tác xã.
Điểm cốt lõi của chuyển đổi không phải là thay thế sản xuất nông nghiệp bằng đô thị hóa, mà là tổ chức lại nông nghiệp để thích ứng với một đô thị đang phát triển. Khi không gian sản xuất được quy hoạch hợp lý, công nghệ được ứng dụng sâu hơn và các khâu chế biến, bảo quản, logistics được kết nối, giá trị tạo ra từ nông nghiệp sẽ không còn phụ thuộc đơn thuần vào diện tích đất canh tác.
Hợp tác xã, trí thức trẻ cùng tham gia chuỗi giá trị
Trong quá trình hình thành nền kinh tế nông nghiệp hiện đại, hợp tác xã có vai trò quan trọng trong tổ chức sản xuất và kết nối nông dân với doanh nghiệp, thị trường. Tuy nhiên, để thực hiện tốt vai trò này, bản thân hợp tác xã cần được tháo gỡ những hạn chế về mặt bằng, vốn, công nghệ và năng lực quản trị.
Giám đốc Hợp tác xã Mây tre đan xuất khẩu Phùng Hưng, xã Tiên Du Đặng Ngọc Phùng cho biết, dù một số mô hình liên kết chuỗi tại địa phương bước đầu phát huy hiệu quả, nhiều hợp tác xã làng nghề, chế biến nông sản vẫn gặp khó khăn trong việc tìm mặt bằng sản xuất, tiếp cận nguồn vốn đầu tư đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực quản trị.
Từ thực tiễn hoạt động, ông Đặng Ngọc Phùng cho rằng cần tập trung tháo gỡ đồng thời các điểm nghẽn về đất đai, vốn và công nghệ. Hợp tác xã cần được tạo điều kiện tiếp cận mặt bằng tập trung để xây dựng nhà xưởng, mở rộng quy mô. Cùng với đó là chính sách ưu đãi lãi suất, hỗ trợ đầu tư máy móc hiện đại, nhất là tại các khâu sơ chế, chế biến sâu, bảo quản và đóng gói nhằm nâng giá trị sản phẩm.
Chuyển đổi số cũng mở thêm phương thức tiếp cận thị trường cho khu vực kinh tế tập thể. Việc đào tạo kỹ năng bán hàng trên sàn thương mại điện tử, nền tảng số và mạng xã hội cần được đẩy mạnh. Cùng với đó, việc quy hoạch, đầu tư các điểm trưng bày, giới thiệu sản phẩm OCOP, sản phẩm làng nghề gắn với các tuyến du lịch trải nghiệm có thể tạo thêm kênh tiêu thụ và quảng bá sản phẩm.
Khi mỗi cơ sở sản xuất vừa tạo ra sản phẩm, vừa trở thành một điểm đến trải nghiệm, giá trị của sản phẩm nông nghiệp và làng nghề sẽ được mở rộng theo hướng gắn sản xuất với dịch vụ, thương mại và du lịch.
Bên cạnh hợp tác xã, nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện không thể thiếu để hiện thực hóa chuyển dịch sang kinh tế nông nghiệp hiện đại. Thực tế cho thấy, trong khi nhu cầu nhân lực trong lĩnh vực nông nghiệp ngày càng lớn, cơ hội việc làm và sức hút của ngành đối với người trẻ vẫn chưa thực sự tương xứng.
Theo đại diện Trường Đại học Nông - Lâm Bắc Giang, cần thay đổi cách nhìn về nông nghiệp. Nông nghiệp hiện nay không chỉ gắn với đồng ruộng mà ngày càng liên quan mật thiết đến công nghệ cao, công nghệ sinh học, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu số, thương mại điện tử và kinh tế xanh. Đây chính là không gian để trí thức trẻ nghiên cứu, sáng tạo, khởi nghiệp và tạo ra những giá trị mới.
Từ yêu cầu đó, đào tạo nhân lực nông nghiệp cũng cần chuyển mạnh sang phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn. Chương trình đào tạo cần thường xuyên cập nhật theo nhu cầu của địa phương, doanh nghiệp và thị trường lao động; đồng thời tăng cường các nội dung về chuyển đổi số, AI, quản trị, đổi mới sáng tạo và thương mại điện tử.
Cùng với đào tạo, cần hình thành mối liên kết chặt chẽ giữa nhà trường, doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương. Sinh viên cần được tạo điều kiện nghiên cứu, thực hành và khởi nghiệp ngay trong quá trình học tập; sau khi tốt nghiệp, môi trường làm việc, cơ hội phát triển nghề nghiệp và thu nhập phải đủ sức hấp dẫn để thu hút, giữ chân nhân lực chất lượng cao.
Việc chuyển đổi tư duy từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp đô thị, công nghệ cao” là chuyển đổi cách tạo ra giá trị. Đất đai phải được sử dụng hiệu quả hơn; hợp tác xã phải trở thành chủ thể liên kết vững chắc hơn; doanh nghiệp phải tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị; khoa học, công nghệ phải được đưa vào sản xuất; còn người nông dân phải từng bước trở thành chủ thể có tri thức, kỹ năng và khả năng làm chủ công nghệ.
Đó cũng là cơ sở để Bắc Ninh xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, xanh, sinh thái, bền vững, tạo giá trị gia tăng cao và thích ứng với không gian phát triển của một đô thị đang chuyển mình.

