Bắc Ninh tìm đầu ra bền vững cho hơn 118.000 tấn cam, bưởi, táo, ổi
Với diện tích khoảng 11.650 ha, sản lượng cam, bưởi, táo, ổi năm 2026 ước đạt 118.525 tấn, tăng 18,7% so với năm trước. Quy mô sản xuất ngày càng lớn đặt Bắc Ninh trước yêu cầu mở rộng thị trường, tổ chức lại chuỗi tiêu thụ và từng bước đưa trái cây đặc trưng vươn ra thị trường quốc tế.
Ngày 21/10, UBND thành phố Bắc Ninh tổ chức Hội nghị kết nối tiêu thụ trái cây chủ lực, đặc trưng của thành phố Bắc Ninh tại thị trường trong nước và nước ngoài năm 2026.
Hội nghị có sự tham dự của đại diện lãnh đạo UBND thành phố Bắc Ninh, các cơ quan Trung ương, sở, ban, ngành và địa phương; cùng đại diện các tập đoàn, hệ thống phân phối, sàn thương mại điện tử, doanh nghiệp logistics, KOL/KOC, doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản và các cơ quan báo chí Trung ương, địa phương.

Toàn cảnh hội nghị.
Việc tổ chức Hội nghị diễn ra trong bối cảnh sản lượng nhóm trái cây chủ lực tiếp tục tăng, trong khi yêu cầu của thị trường ngày càng cao về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng và khả năng cung ứng ổn định. Bài toán đặt ra với Bắc Ninh vì thế không chỉ là tìm đầu ra cho từng mùa vụ, mà phải xây dựng được những mối liên kết lâu dài giữa vùng sản xuất, doanh nghiệp và hệ thống phân phối.
Hơn 118.000 tấn trái cây cần thị trường ổn định
Số liệu của ngành nông nghiệp cho thấy, tổng diện tích cây ăn quả trên địa bàn thành phố khoảng 53.739,1 ha. Trong đó, cam, bưởi, táo, ổi chiếm khoảng 11.650 ha, tương đương 21,7%, với sản lượng năm 2026 ước đạt 118.525 tấn, tăng 18,7% so với năm 2025.
Bưởi hiện có diện tích lớn nhất trong nhóm này, khoảng 5.200 ha, sản lượng ước 47.000 tấn. Trong đó, khoảng 3.660 ha được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, cho sản lượng khoảng 32.600 tấn. Các giống chủ lực gồm bưởi Diễn, Da xanh, Đào đường, Sửu và Hoàng.
Cam có diện tích khoảng 2.500 ha, sản lượng 27.600 tấn; trong đó 1.700 ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, sản lượng khoảng 19.000 tấn. Táo có khoảng 2.900 ha, sản lượng 35.090 tấn, với khoảng 1.500 ha sản xuất theo VietGAP. Diện tích ổi khoảng 1.050 ha, sản lượng 8.835 tấn, trong đó khoảng 800 ha sản xuất theo VietGAP.
Thời gian thu hoạch các loại quả tương đối nối tiếp nhau. Bưởi được thu hoạch từ khoảng tháng 9 đến tháng 2 năm sau; cam chủ yếu từ tháng 10 đến tháng 2; táo tập trung từ cuối tháng 9 đến tháng 1, trong khi ổi có khả năng cho thu hoạch quanh năm.
Lợi thế về mùa vụ tạo điều kiện để Bắc Ninh xây dựng các chương trình xúc tiến thương mại theo từng thời điểm, chủ động kết nối doanh nghiệp và hệ thống phân phối trước khi sản phẩm bước vào thu hoạch rộ. Đây cũng là cách giảm áp lực tiêu thụ khi nguồn cung tăng mạnh trong thời gian ngắn.
Không chỉ tìm đầu ra, phải chuẩn hóa nguồn hàng
Quy mô sản xuất lớn kéo theo yêu cầu phải chuẩn hóa vùng nguyên liệu, nâng chất lượng sản phẩm và bảo đảm khả năng cung ứng ổn định cho các kênh phân phối hiện đại cũng như thị trường xuất khẩu.
Đến ngày 16/10/2026, toàn thành phố duy trì 91 mã số vùng trồng với tổng diện tích 1.764,9 ha. Trong đó, 80 mã số phục vụ xuất khẩu với diện tích 1.676,2 ha và 11 mã số phục vụ thị trường nội địa với 88,7 ha.

Ông Nguyễn Thế Thi, Phó Giám đốc Sở Công Thương Bắc Ninh phát biểu tại hội nghị.
Riêng đối với bưởi, thành phố đã cấp mới 6 mã số vùng trồng cho 26 hộ, tổng diện tích 29,6 ha, sản lượng ước 940 tấn, phục vụ xuất khẩu sang Trung Quốc và đang chờ phía nước nhập khẩu phê duyệt.
Đối với ổi, một mã số vùng trồng diện tích 2,9 ha, sản lượng khoảng 18 tấn, đã được rà soát để phục vụ xuất khẩu sang thị trường EU, cụ thể là Cộng hòa Séc.
Cùng với vùng trồng, cơ quan chuyên môn đang rà soát hồ sơ đề nghị cấp mới mã số cơ sở đóng gói bưởi xuất khẩu tại HTX Nông nghiệp Thanh Hải, với công suất dự kiến 50 tấn/ngày.
Dù vậy, số lượng mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói hiện vẫn chưa tương xứng với quy mô sản xuất. Việc thống kê, phân loại cũng cần được thực hiện cụ thể hơn theo từng loại cây, vùng nguyên liệu và thị trường mục tiêu để doanh nghiệp có thể lựa chọn đúng vùng sản xuất, đúng tiêu chuẩn và xây dựng kế hoạch thu mua phù hợp.
Đây là điều kiện quan trọng để hoạt động xúc tiến thương mại chuyển từ kết nối đơn thuần sang kết nối theo nhu cầu thực tế của thị trường.
Thị trường nội địa vẫn là đầu ra chính
Cam, bưởi, táo, ổi của Bắc Ninh hiện được tiêu thụ qua nhiều kênh, từ thương nhân, đại lý, chợ đầu mối, cửa hàng nông sản đến siêu thị, trung tâm thương mại, doanh nghiệp thu mua, sơ chế, chế biến và các nền tảng thương mại điện tử.
Qua khảo sát, một số hệ thống phân phối lớn như Central Retail, MM Mega Market, WinCommerce, Lotte Mart và Chợ đầu mối phía Nam Hà Nội có nhu cầu thu mua trái cây với sản lượng từ hàng trăm đến hàng nghìn tấn tùy thời điểm.

Bà Phạm Thị Thùy Linh, Giám đốc Đối ngoại và Đầu tư khu vực miền Bắc Tập đoàn Central RetaiL Việt Nam, phát biểu tại hội nghị.
Tuy nhiên, khả năng đáp ứng của các vùng sản xuất chưa đồng đều. Một số hợp tác xã, cơ sở sản xuất còn hạn chế về sản lượng tập trung, tiêu chuẩn chất lượng, bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc cũng như khả năng giao hàng ổn định.
Điều này khiến việc tiêu thụ vẫn phụ thuộc khá lớn vào các kênh truyền thống, trong khi hợp đồng bao tiêu dài hạn chưa phổ biến.
Khi trái cây bước vào giai đoạn thu hoạch rộ, nguồn cung tăng nhanh trong thời gian ngắn có thể tạo sức ép lên giá bán. Nếu đến lúc này mới bắt đầu tìm thị trường, người sản xuất và hợp tác xã sẽ gặp bất lợi trong việc đàm phán về giá, sản lượng, thời gian giao hàng và lựa chọn đối tác.
Chũ hướng tới hình thành đầu mối nông sản
Những điểm nghẽn trong tiêu thụ cũng được thể hiện rõ tại phường Chũ, một trong những khu vực sản xuất và giao thương trái cây quan trọng của vùng Lục Ngạn.
Địa phương hiện có khoảng 1.090 ha cây có múi, sản lượng vụ năm 2026 dự kiến khoảng 9.410 tấn, với các sản phẩm chủ lực như cam lòng vàng, cam đường canh, bưởi Da xanh và bưởi Diễn.
Tuy nhiên, khâu sau thu hoạch vẫn còn hạn chế. Phần lớn sản phẩm được tiêu thụ tươi, trong khi hệ thống kho lạnh, cơ sở sơ chế, đóng gói đạt chuẩn còn ít; hoạt động chế biến sâu chưa phát triển tương xứng với tiềm năng vùng nguyên liệu.
Để mở rộng thị trường, phường Chũ dự kiến tổ chức Tuần lễ cam, bưởi và sản phẩm đặc trưng; đẩy mạnh livestream bán hàng, phát triển gian hàng trên các sàn thương mại điện tử, tăng cường sử dụng tem truy xuất nguồn gốc và phát huy vai trò của Hội Doanh nghiệp phường trong kết nối nhà vườn, hợp tác xã với doanh nghiệp phân phối, logistics.
Địa phương cũng đặt mục tiêu từng bước chuyển đổi mô hình quản lý, kinh doanh, khai thác chợ Chũ, hướng tới hình thành chợ đầu mối nông sản, trái cây của vùng.
Đưa trái cây lên môi trường số
Bên cạnh các kênh phân phối truyền thống, thương mại điện tử được xem là hướng mở để Bắc Ninh tiếp cận trực tiếp hơn với người tiêu dùng.
Bà Tô Quỳnh Mai, Chủ tịch sáng lập Công ty Cổ phần Công nghệ Đào tạo và Truyền thông Đa kênh TQM, Ủy viên Ban Thường vụ Câu lạc bộ KOL/KOC Việt Nam, cho rằng sản phẩm ngon thôi chưa đủ; điều quan trọng là phải giúp người tiêu dùng nhận biết, hiểu được giá trị và hình thành niềm tin đối với sản phẩm.
Truyền thông số, video ngắn, livestream bán hàng đa kênh và cộng đồng KOL/KOC có thể rút ngắn khoảng cách giữa người sản xuất với người mua. Một phiên livestream ngay tại vườn cam, bưởi không chỉ giới thiệu sản phẩm mà còn giúp người tiêu dùng trực tiếp quan sát quá trình chăm sóc, thu hái, đóng gói và đặt hàng.
Muốn bán hàng hiệu quả trên môi trường số, sản phẩm cũng phải đáp ứng những yêu cầu cơ bản về thông tin, hình ảnh, bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc và phương án giao hàng.
Từ thực tế này, bà Mai đề xuất xây dựng chiến lược truyền thông theo mùa vụ, lấy câu chuyện sản phẩm và giá trị bản địa làm trung tâm; tổ chức các chương trình trải nghiệm, livestream tại vùng trồng và đào tạo kỹ năng số cho doanh nghiệp, hợp tác xã, người sản xuất.
Khi câu chuyện về vùng đất, con người và quy trình sản xuất được truyền tải đúng cách, “trái ngọt” không chỉ được bán bằng chất lượng mà còn có thể tạo dựng thương hiệu và giá trị riêng trên thị trường.
Doanh nghiệp bán lẻ muốn đi cùng vùng nguyên liệu
Từ góc độ phân phối, Central Retail Việt Nam cho biết mong muốn mở rộng hợp tác với Bắc Ninh, không chỉ đối với vải thiều mà cả các loại trái cây chủ lực, đặc trưng khác.
Doanh nghiệp bán lẻ hiện đại không chỉ đóng vai trò đưa sản phẩm lên quầy hàng mà còn có thể trở thành cầu nối giữa vùng sản xuất và thị trường, giúp nông sản địa phương tiếp cận nhiều người tiêu dùng hơn, đồng thời nâng cao giá trị thương mại.
Central Retail mong muốn cùng Bắc Ninh chuyển từ việc hỗ trợ tiêu thụ theo từng mùa vụ sang xây dựng những kênh thị trường ổn định, lâu dài. Việc kết nối với cơ quan quản lý, hợp tác xã và doanh nghiệp sẽ giúp lựa chọn những sản phẩm có tiềm năng, từ đó nâng chất lượng, khả năng cung ứng và tính ổn định của nguồn hàng.
Mục tiêu không dừng ở thị trường nội địa. Các sản phẩm nông sản đặc trưng của Bắc Ninh cũng được kỳ vọng từng bước tiếp cận thị trường quốc tế khi đáp ứng đầy đủ yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn riêng của từng nước.
Xuất khẩu đã có tín hiệu, nhưng cần đi bằng chuỗi liên kết
Một số sản phẩm trái cây Bắc Ninh đã bước đầu thâm nhập thị trường nước ngoài. Bưởi Đào đường đã được xuất khẩu sang Nga; ổi được xuất khẩu sang Anh.
Những kết quả bước đầu cho thấy dư địa mở rộng thị trường vẫn còn lớn. Tuy nhiên, quy mô xuất khẩu hiện chưa lớn và chưa thật sự ổn định. Cam và táo vẫn chủ yếu tiêu thụ trong nước do chưa mở được những thị trường xuất khẩu phù hợp.
Đáng chú ý, Công ty Dragonberry đang đàm phán với các đối tác để xuất khẩu chính ngạch ổi và nhãn của Việt Nam, trong đó có sản phẩm từ Bắc Ninh, sang Mỹ và Canada, dự kiến trong năm 2027.
Để đi xa hơn, hoạt động xúc tiến xuất khẩu cần gắn chặt với yêu cầu cụ thể của từng thị trường về an toàn thực phẩm, kiểm dịch thực vật, giới hạn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói.
Cùng với đó, một chuỗi liên kết hoàn chỉnh từ vùng trồng, thu mua, sơ chế, bảo quản, đóng gói đến logistics và xuất khẩu cần được hình thành, thay vì chỉ tập trung tìm đối tác khi sản phẩm đã vào vụ.
HTX, nhà vườn cần những mối liên kết thực chất
Tại hội nghị, HTX Lục Ngạn Xanh cho biết đang có 21 thành viên với tổng diện tích canh tác 30 ha, gồm 15 ha vải thiều, 5 ha táo, 5 ha ổi và một số diện tích cam, chuối, hoa cúc.
HTX đã được chứng nhận thực hành sản xuất vải, táo, ổi theo tiêu chuẩn VietGAP; vải thiều được cấp mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu sang Mỹ và Thái Lan.

Bà Nguyễn Thị Minh Thùy HTX Lục Ngạn Xanh, phát biểu tại hội nghị.
Hiện HTX có các điểm bán tại Chũ, khu vực Bắc Giang cũ và một kho tại Hà Nội. Để mở rộng thị trường, đơn vị mong muốn tiếp tục được hỗ trợ duy trì sản xuất an toàn, tập huấn kỹ thuật, xúc tiến thương mại, kết nối với hệ thống phân phối, hoàn thiện bao bì, nhãn mác và nâng cao kỹ năng kinh doanh trực tuyến.
Những kiến nghị từ cơ sở cho thấy nhu cầu thực tế không chỉ dừng ở việc “tìm người mua”. Điều các hợp tác xã và nhà vườn cần là một chuỗi tiêu thụ hoàn chỉnh, trong đó sản xuất, thu mua, bảo quản, vận chuyển và phân phối được kết nối ngay từ đầu.
Phó Chủ tịch UBND thành phố Phạm Văn Thịnh: Đưa trái cây từ vùng trồng đến thị trường bằng chuỗi liên kết
Phát biểu kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh Phạm Văn Thịnh yêu cầu các hoạt động xúc tiến, quảng bá và tiêu thụ trái cây chủ lực phải được triển khai theo hướng thực chất, hiệu quả, gắn với nâng cao giá trị sản phẩm và thu nhập cho người dân.
Phó Chủ tịch UBND thành phố đánh giá bưởi, ổi, táo, cam là những sản phẩm có chất lượng, có tiềm năng xây dựng phân khúc thị trường giá trị cao. Đặc biệt, vùng Lục Ngạn có điều kiện tự nhiên thuận lợi, sản phẩm trái cây có chất lượng và hương vị đặc trưng, là lợi thế cần tiếp tục phát huy. Trong khi đó, Bắc Ninh là địa bàn tập trung đông chuyên gia, công nhân, người lao động, tạo ra thị trường tiêu thụ lớn; đồng thời có nhiều điều kiện để kết hợp phát triển nông nghiệp với dịch vụ và du lịch.
Để biến những lợi thế này thành giá trị thực tế, Phó Chủ tịch UBND thành phố đề nghị các sở, ngành, địa phương tăng cường phối hợp, đổi mới phương thức quảng bá, đẩy mạnh truyền thông trên nền tảng số, phát huy vai trò của KOL, KOC và các kênh bán hàng trực tuyến, qua đó đưa thương hiệu trái cây Bắc Ninh đến gần hơn với người tiêu dùng trong và ngoài nước.
Cùng với xúc tiến thương mại, cần chú trọng xây dựng mối liên kết ổn định giữa nhà vườn, hợp tác xã và doanh nghiệp; hỗ trợ các đơn vị hoàn thiện tiêu chuẩn sản xuất, bao bì, nhãn mác, truy xuất nguồn gốc, nâng cao khả năng cung ứng và từng bước hình thành các hợp đồng tiêu thụ dài hạn.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh Phạm Văn Thịnh kết luận hội nghị.
Với thị trường xuất khẩu, Phó Chủ tịch UBND thành phố yêu cầu ưu tiên phát triển những sản phẩm có lợi thế, trước mắt là bưởi, đồng thời đẩy nhanh việc hoàn thiện mã số vùng trồng, hướng dẫn người dân đáp ứng các tiêu chuẩn của từng thị trường. Sở Công Thương phối hợp với các đơn vị liên quan tăng cường kết nối đối tác, tìm kiếm thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã mở rộng đầu ra.
Các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương cũng cần tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã, nhà vườn tiếp cận quỹ đất, đầu tư kho lạnh, cơ sở sơ chế, đóng gói; đồng thời cải tiến mẫu mã, bao bì theo hướng trang trọng, tiện dụng, phù hợp với từng phân khúc khách hàng. Việc thống nhất tên gọi, xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm đặc trưng, trong đó có quýt sim, cũng cần được quan tâm nhằm tạo nhận diện rõ ràng về nguồn gốc và lợi thế sản phẩm.
Một hướng đi khác được Phó Chủ tịch UBND thành phố nhấn mạnh là gắn vùng cây ăn quả với phát triển du lịch. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được đề nghị phối hợp với các xã, phường khảo sát hạ tầng, nhận diện những khó khăn, vướng mắc để đề xuất giải pháp; đồng thời tổ chức tập huấn kỹ năng đón tiếp, phục vụ khách cho các nhà vườn, từng bước hình thành những sản phẩm du lịch gắn với trải nghiệm tại vùng cây ăn quả.
Quá trình này cần có sự tham gia đồng bộ của nhà vườn, doanh nghiệp lữ hành và chính quyền địa phương. Ngành giáo dục cũng được khuyến khích tổ chức các chương trình trải nghiệm thực tế cho học sinh tại vùng trồng, vừa góp phần quảng bá sản phẩm, vừa tạo thêm không gian giáo dục gắn với sản xuất nông nghiệp và văn hóa địa phương.
Đối với Lễ hội trái cây Bắc Ninh 2026 dự kiến tổ chức vào tháng 12, Phó Chủ tịch UBND thành phố yêu cầu tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, đồng thời đổi mới nội dung, hình thức tổ chức theo hướng thiết thực, tăng cơ hội quảng bá, kết nối tiêu thụ và thu hút người dân, du khách. Lễ hội cần được tổ chức gắn với các hoạt động chuyên sâu về du lịch miệt vườn, giống cây trồng, công nghệ sản xuất và phát triển thị trường, qua đó tạo thêm giá trị cho sản phẩm và từng bước nâng tầm thương hiệu trái cây Bắc Ninh.
Tại hội nghị, các bên cũng đã ký kết biên bản ghi nhớ, biên bản thỏa thuận hợp tác tiêu thụ cam, bưởi, táo, ổi và các nông sản chủ lực, đặc trưng của Bắc Ninh. Các thỏa thuận giữa các tập đoàn, doanh nghiệp, trung tâm thương mại, hợp tác xã sản xuất, chế biến, tiêu thụ trái cây và sàn thương mại điện tử được kỳ vọng mở thêm hướng kết nối trực tiếp từ vùng sản xuất đến hệ thống phân phối và người tiêu dùng.


