Bài 1: Bứt phá công nghệ – con đường duy nhất để tăng trưởng bền vững
Hành động cấp thiết để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực bứt phá cho đất nước
Lời Tòa soạn: Nghị quyết 57-NQ/TW ra đời phản ánh quyết tâm chính trị ở cấp cao nhất của Đảng, Nhà nước ta nhằm “đi tắt đón đầu” xu hướng toàn cầu, tạo ra xung lực mới đưa đất nước bứt phá vươn lên. Đây là bước đi kịp thời và chiến lược trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt và Việt Nam đứng trước nguy cơ tụt hậu nếu chậm chân. Vấn đề hiện nay là phải hành động cấp thiết để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trở thành động lực bứt phá cho sự phát triển của đất nước.
Báo Đại biểu Nhân dân giới thiệu loạt bài của TS. Trần Văn Khải - Phó Bí thư Đảng ủy Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường về chủ đề này.

Nhiều cơ hội thuận lợi chưa từng có để bứt phá
Mặc dù xuất phát điểm còn hạn chế, Việt Nam những năm gần đây đã đạt được một số thành tựu ấn tượng về đổi mới sáng tạo, tạo nền tảng để tự tin bước vào kỷ nguyên công nghệ. Theo báo cáo Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu (GII) 2023 của WIPO, Việt Nam xếp hạng 46/132 nền kinh tế - tăng 2 bậc so với năm trước. Đáng chú ý, chúng ta nằm trong số rất ít quốc gia duy trì được thành tích “đổi mới vượt trội” so với mức phát triển: Việt Nam cùng Ấn Độ và Moldova là ba nước liên tục 13 năm liền vượt trội về đổi mới sáng tạo so với kỳ vọng của nhóm thu nhập trung bình. Nói cách khác, Việt Nam đã tận dụng hiệu quả nguồn lực còn hạn chế để đạt kết quả đổi mới tốt hơn nhiều nước đồng cấp.
WIPO đánh giá Việt Nam thuộc nhóm các nền kinh tế có tiến bộ nhanh nhất về thứ hạng đổi mới trong một thập kỷ qua. Những điểm sáng có thể kể đến như: tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao trong xuất khẩu thuộc hàng cao trên thế giới, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo sôi động đứng thứ 3 ASEAN, và năng lực hấp thụ công nghệ cải thiện rõ rệt. Đây là bằng chứng cho thấy tiềm năng và quyết tâm vươn lên của Việt Nam trên bản đồ công nghệ toàn cầu.

Bên cạnh những thành tựu nội tại, Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội thuận lợi chưa từng có để bứt phá về khoa học công nghệ và ĐMST.
Trước hết là lợi thế hội nhập kinh tế sâu rộng. Đến cuối năm 2024, Việt Nam đã ký kết và thực thi 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) với hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ – trong đó có những đối tác công nghệ hàng đầu như Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ (thông qua CPTPP và sắp tới là quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện với Hoa Kỳ).
Mạng lưới FTA dày đặc này mở ra cánh cửa tiếp cận các nguồn lực công nghệ tiên tiến cũng như thị trường rộng lớn cho Việt Nam. Thông qua hợp tác quốc tế, chúng ta có thể nhận chuyển giao tri thức, công nghệ mới, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Cùng với đó, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược/toàn diện với hơn 20 quốc gia, bao gồm hầu hết các cường quốc công nghệ như Mỹ, Nhật, Đức, Australia... Những mối quan hệ chiến lược này tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường hợp tác về khoa học công nghệ, từ trao đổi chuyên gia, du học nghiên cứu đến thu hút đầu tư vào các trung tâm R&D. Chẳng hạn, các tập đoàn lớn như Samsung, Apple, Intel đã và đang đầu tư xây dựng trung tâm R&D tại Việt Nam, biến nước ta thành cứ điểm nghiên cứu mới trong chuỗi cung ứng của họ.
Thêm vào đó, quy mô thị trường nội địa 100 triệu dân với tỷ lệ người trẻ cao, nhanh nhạy với công nghệ là động lực quan trọng cho đổi mới. Lực lượng nhân lực STEM của Việt Nam ngày càng lớn mạnh, mỗi năm có hàng chục nghìn kỹ sư công nghệ tốt nghiệp từ các trường đại học trong và ngoài nước.
Chỉ số nhân lực trong bảng GII của Việt Nam đạt điểm cao nhờ tỷ lệ biết chữ và thành tích giáo dục phổ thông nổi bật. Cùng với đó, cộng đồng người Việt tài năng ở nước ngoài (đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao tại Thung lũng Silicon, châu Âu, Nhật Bản) là nguồn lực quý báu nếu được kết nối phục vụ phát triển quốc gia.

Hội thảo về ảnh hưởng của AI tới các ngành nghề do các chuyên gia người Việt chia sẻ, diễn ra hôm 12.8.2023 tại Thung lũng Silicon. Nguồn: ITN
Các quỹ đầu tư mạo hiểm quốc tế cũng đang dành sự quan tâm lớn tới thị trường khởi nghiệp Việt Nam, minh chứng qua dòng vốn startup gia tăng những năm gần đây.
Tất cả những yếu tố trên tạo nên “thiên thời, địa lợi” để Việt Nam tăng tốc trên con đường khoa học công nghệ. Nghị quyết số 57 xác định mục tiêu đến năm 2030 đưa Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN về đổi mới sáng tạo và xây dựng ít nhất 5 doanh nghiệp công nghệ tầm cỡ khu vực. Với nền tảng hội nhập sâu rộng và nội lực đang lên, mục tiêu này là khả thi nếu chúng ta biết tận dụng hiệu quả các cơ hội đang có.
Thu hẹp khoảng cách khoa học công nghệ với thế giới - nhiệm vụ không thể trì hoãn
Dù tiềm năng lớn, Việt Nam vẫn đối mặt với khoảng cách đáng kể về khoa học công nghệ so với các nước phát triển, cùng nhiều điểm nghẽn nội tại cần khắc phục. Quy mô và trình độ khoa học công nghệ nước ta hiện vẫn còn khoảng cách xa so với nhóm các nước công nghiệp phát triển.
Theo Bộ Khoa học & Công nghệ, số lượng các công trình nghiên cứu của Việt Nam công bố quốc tế tuy tăng nhanh nhưng vẫn thấp so với các nước dẫn đầu khu vực. Chúng ta cũng chưa làm chủ được nhiều công nghệ lõi, công nghệ chiến lược quan trọng. Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nội địa còn hạn chế: phần lớn doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, thiếu vốn và nhân lực cho R&D, dẫn đến hàm lượng công nghệ trong sản phẩm thấp.

Thực tế, nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu gia công, lắp ráp với giá trị gia tăng thấp, năng suất lao động chỉ bằng khoảng 1/3 mức trung bình của ASEAN-6. Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng mới đạt khoảng 45%, cần tăng lên trên 55% vào năm 2030 theo mục tiêu Nghị quyết 57. Rõ ràng, để bắt kịp các nước tiên tiến, Việt Nam phải đẩy mạnh nâng cao năng suất thông qua ứng dụng công nghệ cao và đổi mới mô hình quản trị.
Một thách thức lớn khác là tỷ trọng kinh tế số và công nghiệp công nghệ trong GDP còn khá khiêm tốn. Năm 2022, kinh tế số của Việt Nam ước tính mới chiếm khoảng 14,26% GDP - con số này tuy tăng so với ~12% năm 2021nhưng vẫn dưới mức trung bình toàn cầu.

Chính phủ đặt mục tiêu rất cao: đến năm 2030, kinh tế số phải chiếm tối thiểu 30% GDP. Điều đó đồng nghĩa Việt Nam cần tăng tốc độ chuyển đổi số trên mọi lĩnh vực trong 5-7 năm tới, từ sản xuất, dịch vụ đến quản lý nhà nước và đời sống người dân.
Hiện mới có khoảng 14% doanh nghiệp Việt Nam ghi nhận có hoạt động đổi mới sáng tạo, tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt và dịch vụ công trực tuyến cũng cần mở rộng hơn nữa. Hạ tầng số chưa đồng bộ, đặc biệt tại các địa phương ngoài đô thị lớn, gây ra chênh lệch số và hạn chế khả năng tiếp cận công nghệ của một bộ phận người dân. Đây là khoảng trống cần được lấp đầy bằng việc đầu tư mạnh mẽ hơn cho mạng viễn thông thế hệ mới (5G/6G), trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây....
Đáng lo ngại, đầu tư cho R&D của Việt Nam hiện ở mức rất thấp so với chuẩn thế giới. Tổng chi cho nghiên cứu phát triển chỉ quanh mức 0,5% GDP (năm 2021 là 0,54%; năm 2023 ước khoảng 0,4%), thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu (~2,3% GDP) và thua xa các nước trong khu vực như Trung Quốc (2,5%), Malaysia (~1%), hay Singapore (~1,9%). Theo xếp hạng của UNESCO, Việt Nam đứng thứ 66 thế giới về cường độ R&D.
Nghị quyết số 57 đã đặt mục tiêu đầy tham vọng: đến năm 2030, nâng mức chi R&D lên 2% GDP, trong đó nguồn xã hội (doanh nghiệp, tư nhân) đóng hơn 60%. Điều này đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học công nghệ, cũng như tăng tỷ trọng ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này (ít nhất 3% tổng chi ngân sách hàng năm).
Thách thức về nhân lực chất lượng cao cũng rất cấp bách: hiện Việt Nam chỉ có dưới 10 nhà nghiên cứu trên mỗi vạn dân, bằng chưa tới 8% so với Hàn Quốc và 30% so với Malaysia. Chất lượng giáo dục đại học và dạy nghề còn bất cập, chưa cung cấp đủ kỹ sư, chuyên gia có kỹ năng đáp ứng nhu cầu công nghiệp công nghệ cao.

Quang cảnh Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 13.1.2025. Ảnh: Hồ Long
Mặt khác, thể chế và môi trường pháp lý cho hoạt động đổi mới sáng tạo vẫn chưa theo kịp thực tiễn. Nhiều mô hình, sản phẩm công nghệ mới chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp e ngại thử nghiệm do rủi ro pháp lý. Thủ tục hành chính trong nghiên cứu khoa học còn phức tạp, cơ chế tài chính cho quỹ khoa học chưa linh hoạt, gây khó khăn cho các nhà khoa học.
Nhận thức xã hội về chuyển đổi số và sáng tạo đổi mới tuy có cải thiện nhưng chưa đồng đều; không ít cơ quan, doanh nghiệp vẫn chưa coi trọng đúng mức việc đầu tư cho công nghệ. Tất cả những hạn chế này đặt ra yêu cầu Việt Nam phải quyết liệt cải cách trên nhiều phương diện, từ giáo dục đào tạo, chính sách thu hút nhân tài, đến hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy sáng tạo. Thu hẹp khoảng cách về khoa học công nghệ với thế giới đòi hỏi nỗ lực đồng bộ và đầu tư dài hạn, nhưng đây là nhiệm vụ không thể trì hoãn nếu chúng ta muốn vươn tới mục tiêu quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Các tổ chức quốc tế và giới chuyên gia đều chung nhận định rằng, động lực quan trọng nhất quyết định triển vọng tăng trưởng của một quốc gia chính là năng suất, và đổi mới công nghệ là nhân tố số một thúc đẩy năng suất.
Ngân hàng Thế giới từng cảnh báo Việt Nam đang ở ngã rẽ: một hướng là tiếp tục cải thiện năng lực công nghệ để duy trì mức tăng trưởng cao ~7%/năm như hai thập kỷ qua, hướng kia là tăng trưởng chậm lại do vấp trần giới hạn về mô hình cũ. Yếu tố quyết định chọn hướng đi nào chính là mức độ đầu tư cho đổi mới sáng tạo. Nói cách khác, nếu không dựa vào khoa học công nghệ, Việt Nam khó có thể thoát bẫy thu nhập trung bình và nguy cơ tụt hậu ngày càng lớn.
Nghị quyết số 57 đã vạch ra tầm nhìn đưa Việt Nam trở thành quốc gia công nghệ tiên tiến, thu nhập cao vào năm 2045. Mục tiêu này đầy thách thức nhưng hoàn toàn có cơ sở nếu toàn xã hội đồng lòng chuyển mình. Trước mắt, để đạt được tốc độ tăng trưởng GDP ở mức hai con số trong những năm tới - điều cần thiết để hiện thực hóa khát vọng hùng cường, chúng ta không còn con đường nào khác ngoài phát huy tối đa động lực khoa học công nghệ. Điều này đòi hỏi một sự thay đổi tư duy mạnh mẽ: coi đầu tư cho R&D, cho chuyển đổi số không phải là chi phí mà là đầu tư chiến lược cho tương lai. Cả khu vực công và tư cần chung tay xây dựng hệ sinh thái sáng tạo, trong đó doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học liên kết chặt chẽ để biến ý tưởng thành sản phẩm, biến nghiên cứu thành của cải vật chất.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, ngày 13.1. Ảnh: Hồ Long
Như Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giữ vai trò then chốt, là động lực mạnh mẽ để Việt Nam phát triển tăng tốc, bứt phá, bền vững. Việc triển khai Nghị quyết 57 với tinh thần quyết liệt, hiệu quả sẽ tạo bước ngoặt đưa những định hướng chiến lược trở thành hành động cụ thể trong đời sống. Từ đó, một hệ sinh thái đổi mới sẽ hình thành, thúc đẩy những đột phá công nghệ “Made in Vietnam” đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia duy trì được tăng trưởng cao đều nhờ dựa trên nền tảng khoa học công nghệ vững chắc – Việt Nam không phải ngoại lệ. Do đó, để nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng hai con số một cách bền vững, chúng ta phải dồn tổng lực cho cuộc cách mạng công nghệ trong nước, biến khát vọng thành hành động cụ thể. Bứt phá về công nghệ chính là chìa khóa để hiện thực hóa tầm nhìn Việt Nam hùng cường vào giữa thế kỷ XXI, đưa dân tộc bước lên tầm cao mới trên trường quốc tế.
Tài liệu tham khảo: Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024; Báo cáo GII 2023 (WIPO); Dữ liệu Ngân hàng Thế giới và Bộ KH&CN; Phát biểu của Thủ tướng tại Hội nghị quán triệt NQ57.