[Bài 1] Ngân hàng trong thị trường hàng hóa: Đứng đâu để phát huy thế mạnh?
Để đưa thị trường giao dịch hàng hóa Việt Nam bứt phá trong giai đoạn mới, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải tái cấu trúc thể chế theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch, công bằng, đồng bộ, thống nhất và tiệm cận với thông lệ quốc tế...

Trong nhiều năm qua, Thông tư 40/2016/TT-NHNN đã cung cấp hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động phái sinh giá cả hàng hóa của các ngân hàng thương mại, hoạt động này cung cấp công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, biến động hàng hóa trong kinh doanh Xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, khi định chế Sở giao dịch hàng hóa đã trở thành Tổ chức tài chính quan trọng cho nhu cầu đầu tư và phòng ngừa rủi ro biến động giá hàng hóa nguyên liệu theo xu thế hoạt động của Thế giới và luật về giao dịch hàng hóa phái sinh cũng như các khuôn khổ pháp lý kèm theo trong nước đang được hoàn thiện để Quốc hội thông qua và ban hành, thì việc xác lập lại vị trí của ngân hàng thương mại trong giao dịch hàng hóa trở thành yêu cầu quan trọng để phát huy năng lực tài chính, quản trị rủi ro và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng.
HẠ TẦNG TÀI CHÍNH CHO THỊ TRƯỜNG GIAO DỊCH
Trong nền kinh tế, hệ thống tài chính – ngân hàng luôn giữ vai trò huyết mạch khi là nơi cung cấp vốn cho sản xuất, lưu thông hàng hóa, xuất nhập khẩu và đầu tư. Đặc biệt với thị trường giao dịch hàng hóa, đằng sau mỗi hợp đồng mua bán nông sản, nhập khẩu nguyên liệu hay cung ứng nhiên liệu là nhu cầu thanh toán, tài trợ thương mại, quản lý dòng tiền và kiểm soát rủi ro giá. Vì vậy, ngân hàng không chỉ hỗ trợ các nhu cầu đó bằng các nghiệp vụ truyền thống như cung cấp tín dụng, thanh toán hay tài trợ thương mại mà còn đồng thời cung cấp công cụ tài chính giúp doanh nghiệp chủ động hơn trước biến động thị trường.

TS. Đinh Thế Hiển.
"Trong nhiều năm qua, Thông tư 40/2016/TT-NHNN đã cung cấp hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động phái sinh giá cả hàng hóa của các ngân hàng thương mại, hoạt động này cung cấp công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá, biến động hàng hóa trong kinh doanh xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, khi định chế Sở giao dịch hàng hóa đã trở thành Tổ chức tài chính quan trọng cho nhu cầu đầu tư và phòng ngừa rủi ro biến động giá hàng hóa nguyên liệu theo xu thế hoạt động của Thế giới và luật về giao dịch hàng hóa phái sinh cũng như các khuôn khổ pháp lý kèm theo trong nước đang được hoàn thiện để Quốc hội thông qua và ban hành, thì việc xác lập lại vị trí của ngân hàng thương mại trong giao dịch hàng hóa trở thành yêu cầu quan trọng để phát huy năng lực tài chính, quản trị rủi ro và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng".
Ở các thị trường phát triển như Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, ngân hàng tham gia thị trường hàng hóa thông qua nhiều mô hình như: sử dụng phái sinh để quản trị rủi ro của chính mình, cung cấp sản phẩm OTC cho khách hàng, hoặc tham gia thị trường niêm yết và cung cấp dịch vụ trung gian khi đáp ứng điều kiện pháp lý. Đồng thời, ngoài hình thức tài trợ thương mại cổ điển, vai trò của ngân hàng thương mại trong thị trường hàng hóa cũng được phân định rất rõ ràng trên cả ba phân khúc cốt lõi:
Trên thị trường phái sinh phi tập trung (OTC) đây là "sân chơi" thể hiện rõ nhất năng lực vượt trội của ngân hàng thương mại. Tại Mỹ, Châu Âu, Singapore hay Trung Quốc, các ngân hàng thương mại lớn trực tiếp đóng vai trò là "Nhà tạo lập thị trường" (Market Maker) hoặc "Đại lý hoán đổi" (Swap Dealer). Bằng việc sử dụng hạn mức tín dụng và hệ thống thẩm định rủi ro chuyên sâu, ngân hàng trực tiếp đứng ra gánh vác rủi ro đối tác và thiết kế các sản phẩm phái sinh "may đo" theo đúng quy mô, kỳ hạn và dòng tiền thực tế của từng doanh nghiệp. Tại phân khúc thị trường này, ngoài dịch vụ truyền thống, Ngân hàng trực tiếp làm đối tác giao dịch, quản trị rủi ro và cung cấp thanh khoản cho khách hàng trên cơ sở năng lực vốn và tín dụng của mình. Đây là phân khúc ngân hàng có lợi thế đặc thù.
Trên thị trường phái sinh niêm yết (ETD), ngân hàng thương mại chỉ được tham gia với tư cách trung gian (Thành viên môi giới, thành viên bù trừ), phải được cấp phép hoặc chấp thuận theo một khuôn khổ pháp luật chung như các thành viên khác của thị trường. Tại Mỹ, ngân hàng thành lập công ty con chuyên biệt (Futures Commission Merchant - FCM) đăng ký với Ủy ban Giao dịch hàng hóa Tương lai (CFTC). Tại Liên minh Châu Âu, NHTM có thể trực tiếp đứng tên làm Thành viên của Sở giao dịch hàng hóa và không cần giấy phép thứ hai nhưng phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật; còn muốn bù trừ phải đáp ứng yêu cầu làm thành viên của Trung tâm Thanh toán bù trừ (Central Counterparty Clearing House - CCP). Mọi lệnh giao dịch phái sinh niêm yết của ngân hàng hay khách hàng của ngân hàng đều phải thực hiện qua hệ thống khớp lệnh của Sở Giao dịch hàng hóa và bù trừ tập trung; không tồn tại "kênh chuyển lệnh riêng lẻ" của Ngân hàng nằm ngoài hệ thống Sở Giao dịch hàng hóa. Tại Trung Quốc, Hàn Quốc, Ngân hàng chỉ tham gia với tư cách là Khách hàng tổ chức ủy thác qua các Công ty Thành viên của Sở giao dịch hàng hóa, đồng thời làm ngân hàng lưu ký tiền ký quỹ do Sở giao dịch hàng hóa chỉ định.
Trên thị trường giao ngay tập trung (Spot) Ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng truyền thống như Tài khoản, Thanh toán, Quản lý tiền gửi, Ngoại hối, Tài trợ thương mại (thư tín dụng, cho vay thu mua, chiết khấu chứng từ) và bảo lãnh.
THỰC TIỄN 10 NĂM VÀ KHOẢNG CÁCH THỂ CHẾ
Tại Việt Nam, sự ra đời của Thông tư 40/2016/TT-NHNN cách đây một thập kỷ đã tạo khuôn khổ để các ngân hàng cung ứng sản phẩm phái sinh giá cả hàng hóa cho khách hàng nhằm phòng ngừa rủi ro. Năm 2016, có khoảng 6 – 8 ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ phái sinh giá cả hàng hóa, tổng giá trị giao dịch danh nghĩa khoảng 26 tỷ USD/năm (tăng 15% so với năm 2015), chủ yếu là nông sản và nhiên liệu; khách hàng là doanh nghiệp kinh doanh, xuất nhập khẩu hàng hóa và hãng hàng không.
Theo thống kê từ 2016 đến nay, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bổ sung nội dung này vào giấy phép của nhiều ngân hàng thương mại (như HDBank năm 2019, Vietcombank năm 2019, TPBank năm 2021, PVcomBank năm 2026). Hiện có khoảng 7–12 ngân hàng thương mại được cấp phép (như VietinBank, BIDV, Vietcombank, Techcombank, HDBank, TPBank…). Riêng VietinBank, tổng giá trị hợp đồng phái sinh hàng hóa năm 2022 đạt hơn 11 tỷ USD (tăng 37,5% so với năm 2021), trải rộng nông sản, nhiên liệu, năng lượng và kim loại.

Tuy nhiên, sau mười năm vận hành, bối cảnh kinh tế đã có những chuyển biến mang tính bước ngoặt. Quy mô giao dịch hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV) đã tăng mạnh, giá trị giao dịch danh nghĩa bình quân mỗi phiên năm 2025 đạt khoảng 7.500 tỷ đồng, tăng gần 46% so với năm trước; tổng số lượng hợp đồng giao dịch tăng khoảng 28%. Trên đà phát triển đó, Nghị định 302/2026/NĐ-CP đã được ban hành để thay thế các Nghị định cũ nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ quản lý hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch, mở đường cho việc xây dựng Luật giao dịch hàng hóa phái sinh riêng biệt. Trong khi đó, hoạt động của ngân hàng thương mại trên thị trường giao dịch hàng hóa mới chủ yếu tập trung vào việc thực hiện lệnh giao dịch của khách hàng tại các sở giao dịch hàng hóa nước ngoài và khung khổ pháp lý cho khối ngân hàng bắt đầu bộc lộ những khoảng cách so với thực tiễn.

Theo Thông tư 40/2016/TT-NHNN, các ngân hàng thương mại của Việt Nam chủ yếu thực hiện giao dịch bằng cách nhận lệnh của khách hàng trong nước rồi chuyển tiếp ra các sở giao dịch hàng hóa nước ngoài (chiếm trên 99% tổng giá trị giao dịch phái sinh hàng hóa của ngân hàng). Cơ chế này đẩy ngân hàng vào vai trò của một đơn vị trung gian môi giới thuần túy, bỏ ngỏ toàn bộ thế mạnh cốt lõi về nguồn vốn, năng lực thẩm định tín dụng và khả năng cấu trúc các giải pháp tài chính OTC cho doanh nghiệp. Đáng nói, cơ chế ngân hàng tự vận hành kênh chuyển lệnh giao dịch của khách hàng đến các sở giao dịch hàng hóa ở nước ngoài theo Thông tư 40/2016/TT-NHNN đang tạo ra xung đột với Luật Thương mại 2005 và các văn bản hướng dẫn về hoạt động mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa cũng như Luật Các tổ chức tín dụng. Cụ thể, doanh nghiệp giao dịch niêm yết qua sở giao dịch hàng hóa trong nước thì chịu sự quản lý vị thế và ký quỹ tập trung theo quy định của Luật Thương mại; còn doanh nghiệp giao dịch qua ngân hàng thì nằm hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát của cơ quan quản lý thị trường hàng hóa chuyên ngành.
Việc cho phép ngân hàng thương mại trực tiếp kinh doanh tự doanh hợp đồng phái sinh hàng hóa tiềm ẩn rủi ro hệ thống rất lớn. Bản chất của giao dịch phái sinh là tính đòn bẩy cao; do đó, nguồn vốn huy động tiền gửi của người dân tuyệt đối không thể được sử dụng để gánh chịu rủi ro từ các hoạt động này. Kinh nghiệm quốc tế ghi nhận quy tắc bắt buộc: ngân hàng chỉ được tham gia tự doanh phái sinh thông qua việc thành lập công ty con độc lập với nguồn vốn tách biệt, qua đó khoanh vùng rủi ro theo nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn và bảo vệ an toàn cho hệ thống ngân hàng.
Sự bất cập cùng với những chuyển biến mang tính bước ngoặt này đặt ra yêu cầu tổ chức thị trường theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch và an toàn hơn, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa pháp luật thương mại với các quy định điều chỉnh hoạt động của ngân hàng, cụ thể là Thông tư 40/2016/TT-NHNN.
Đây là tình trạng “Một thị trường – Hai hệ thống quản lý”, tạo ra lỗ hổng quản lý giữa cơ quan quản lý ngân hàng và cơ quan quản lý thị trường hàng hóa, nhất là về dữ liệu, báo cáo và kiểm soát vị thế.
Thị trường giao dịch hàng hóa qua Sở Giao dịch Hàng hóa Việt Nam cần xác lập nguyên tắc “Một thị trường – Một cơ chế pháp lý”, chấm dứt cơ chế nhận và chuyển lệnh riêng lẻ ra nước ngoài nằm ngoài hệ thống quản lý vị thế chung. Các giao dịch thuộc phạm vi thị trường tập trung cần được thực hiện qua cơ chế của sở giao dịch và trung tâm thanh toán bù trừ theo quy định. Nếu ngân hàng muốn tham gia với vai trò trung gian, cần đáp ứng điều kiện thành viên hoặc tổ chức hoạt động thông qua pháp nhân chuyên biệt theo khuôn khổ pháp luật.
Để đưa thị trường giao dịch hàng hóa Việt Nam bứt phá trong giai đoạn mới, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải tái cấu trúc thể chế theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch, công bằng, đồng bộ, thống nhất và tiệm cận với thông lệ quốc tế.
Thị trường không thể phát triển lành mạnh nếu tiếp tục tồn tại cơ chế quản lý cắt khúc. Việc khẳng định và đưa vào áp dụng nguyên tắc xuyên suốt "Một thị trường – Một cơ chế pháp lý" là lựa chọn mang tính chiến lược.
(*) TS.Đinh Thế Hiển, Viện Nghiên cứu Tin học và Kinh tế Ứng dụng

