Bài 1: Thách thức tại các đô thị lớn trong quá trình đô thị hóa

Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng, các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đang đối mặt với những áp lực giao thông chưa từng có, nơi các phương pháp điều tiết thủ công truyền thống dần chạm tới 'điểm bão hòa'.

Quá tải hạ tầng và phương tiện

Tại Thủ đô Hà Nội, bài toán giao thông đang trở nên hóc búa hơn bao giờ hết. Tính đến tháng 4/2026, thành phố quản lý hơn 8,1 triệu phương tiện, bao gồm gần 1,2 triệu ô tô và gần 7 triệu xe mô tô. Đáng chú ý, số lượng ô tô cá nhân tăng trưởng khoảng 10%/năm, trong khi diện tích đất dành cho giao thông chỉ tăng khoảng 0,3%/năm. Nghĩa là, tốc độ gia tăng ô tô nhanh gấp 30 lần tốc độ phát triển hạ tầng giao thông. Với dân số khoảng 10 triệu người và mật độ dân số cao gấp 8,2 lần trung bình cả nước, hạ tầng Hà Nội đang bị nén chặt, dẫn đến tình trạng ùn tắc cục bộ thường xuyên tại các cửa ngõ và công trình trọng điểm.

Đường Nguyễn Trãi (Hà Nội) có thời điểm lưu lượng phương tiện lưu thông vượt gấp hơn 3 lần thiết kế.

Đường Nguyễn Trãi (Hà Nội) có thời điểm lưu lượng phương tiện lưu thông vượt gấp hơn 3 lần thiết kế.

Trong khi đó, TP Hồ Chí Minh, đầu tàu kinh tế của cả nước lại mang đặc thù của một "thành phố xe máy" với mật độ dân cư và phương tiện đông đúc nhất quốc gia. Mỗi ngày, hàng triệu lượt phương tiện đổ ra đường, từ các trục huyết mạch như Quốc lộ 1, Xa lộ Hà Nội đến những phố nhỏ trung tâm. Áp lực này còn cộng hưởng với những yếu tố thiên nhiên như triều cường gây ngập lụt, làm gián đoạn lưu thông…

Riêng với Đà Nẵng, dù sở hữu quy hoạch đô thị được đánh giá là tốt hơn, nhưng thành phố cũng đang đứng trước những áp lực mới. Là trung tâm du lịch lớn, Đà Nẵng thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải vào các khung giờ cao điểm, mùa du lịch hoặc khi diễn ra các sự kiện lớn như Lễ hội Pháo hoa quốc tế... Tại các tuyến đường ven biển như Võ Nguyên Giáp hay khu vực cầu Rồng, chỉ cần một va chạm nhỏ cũng có thể khiến giao thông "đóng băng" nhanh chóng. Tính đến đầu năm 2026, Đà Nẵng quản lý hơn 2,6 triệu phương tiện đường bộ, tạo áp lực khổng lồ lên mạng lưới hạ tầng vốn đang phải gánh thêm lượng lớn xe du lịch và vận tải công nghệ.

“Sức người” đã chạm ngưỡng giới hạn

Thực tế cho thấy, lực lượng CSGT không thể có mặt 24/7 trên mọi km đường để bao quát hết các diễn biến phức tạp. Việc điều tiết bằng "sức người" gặp khó khăn trong việc phát hiện sớm ùn tắc từ xa hoặc kiểm soát các hành vi vi phạm trong môi trường giao thông hỗn hợp.

Cảnh sát giao thông TP Hồ Chí Minh tham gia hướng dẫn phân luồng giao thông, đảm bảo người dân lưu thông an toàn, thông thoáng.

Cảnh sát giao thông TP Hồ Chí Minh tham gia hướng dẫn phân luồng giao thông, đảm bảo người dân lưu thông an toàn, thông thoáng.

Trao đổi với phóng viên Báo CAND, Trung tá Đào Việt Long, Phó Trưởng Phòng CSGT, Công an TP Hà Nội chia sẻ, phương pháp điều tiết giao thông thủ công hiện nay đã chạm tới “điểm bão hòa”. Tại điểm này, lực lượng trực tiếp điều tiết bằng con người không còn đủ khả năng duy trì dòng giao thông thông suốt và ổn định nếu thiếu sự hỗ trợ của công nghệ. Có nhiều lý do khiến sức người dần trở nên yếu thế trước làn sóng phương tiện. Trước hết, đó là sự hạn chế về tầm bao quát. Lực lượng CSGT không thể có mặt 24/7 trên mọi km đường để kiểm soát các hành vi như leo vỉa hè, vượt đèn đỏ hay đi ngược chiều, những vi phạm phổ biến trong môi trường giao thông hỗn hợp; hay độ trễ trong phản ứng. Cụ thể, nếu không có hệ thống cảm biến và camera giám sát, CSGT chủ yếu phát hiện ùn tắc qua quan sát trực tiếp hoặc tin báo. Khi lực lượng chức năng tiếp cận hiện trường, ùn tắc thường đã lan rộng sang các tuyến lân cận, tạo hiệu ứng dây chuyền rất khó giải tỏa. Cuối cùng là áp lực tâm lý. Tâm lý “vắng bóng CSGT là vi phạm” vẫn tồn tại trong một bộ phận người dân. Điều này khiến trật tự giao thông chỉ mang tính nhất thời tại các điểm có chốt trực, không tạo ra được sự kỷ cương bền vững trên toàn mạng lưới.

Tương tự tại Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, các chiến sĩ CSGT chia sẻ rằng, vào mùa cao điểm du lịch, gần như "không có khái niệm giờ nghỉ". Hình ảnh những chiến sĩ đứng dưới nắng gắt hay mưa tầm tã để phân luồng tại các nút giao trọng điểm minh chứng cho sự nỗ lực của họ, nhưng đồng thời cũng bộc lộ giới hạn của con người khi lưu lượng phương tiện liên tục gia tăng.

Trước những thách thức mang tính thời đại, định hướng của Bộ Công an là lấy công nghệ làm "tai mắt" và lấy bản lĩnh chiến sĩ làm "trụ cột" để giữ gìn bình yên trên các cung đường. Đây là bước chuyển dịch từ "điều tiết thủ công trực tiếp" sang "điều hành giao thông thông minh dựa trên dữ liệu". Việc triển khai hệ thống camera AI tại các thành phố lớn đã tạo ra một cuộc cách mạng trong quản lý.

Hầu hết camera AI đang hoạt động đều kết nối thông suốt với hệ thống đèn tín hiệu để thuận lợi cho việc điều tiết giao thông.

Hầu hết camera AI đang hoạt động đều kết nối thông suốt với hệ thống đèn tín hiệu để thuận lợi cho việc điều tiết giao thông.

Tại Hà Nội gần 1.900 camera AI đang hoạt động kết nối thông suốt với hệ thống đèn tín hiệu giao thông tại 195 nút giao trọng điểm và thực hiện nhiệm vụ điều hành giao thông theo thời gian thực. 22 tuyến, trục chính được triển khai “làn sóng xanh” như: Phố Huế - Hàng Bài, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Phan Đình Phùng, Võ Chí Công, Nguyễn Văn Cừ, Giải Phóng, Đại La, Lý Thường Kiệt, Tràng Thi… đang hoạt động hiệu quả, tăng thời gian lưu thông trên tuyến cho người dân.

Tương tự, tại TP Hồ Chí Minh, gần 2.000 “mắt thần” đã được phủ khắp các nẻo đường, giúp phát hiện hơn 122.500 trường hợp vi phạm chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026. Hệ thống này có khả năng giám sát liên tục, tự động nhận diện các lỗi khó phát hiện bằng mắt thường như không thắt dây an toàn hoặc sử dụng điện thoại khi lái xe. Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã ứng dụng Dữ liệu lớn (Big Data) để xây dựng các bản đồ nhiệt (heat map). Qua đó, Trung tâm Điều hành thông minh (IOC) có thể dự báo các "điểm đen" ùn tắc dựa trên mật độ dòng phương tiện được cập nhật theo thời gian thực. Dựa vào đây, cán bộ trực có thể chủ động thay đổi chu kỳ đèn tín hiệu hoặc điều phối lực lượng tiếp cận hiện trường trước khi ùn tắc thực sự hình thành.

Dù công nghệ hiện đại đến đâu, con người vẫn là yếu tố quyết định. Trong kỷ nguyên 4.0, mỗi chiến sĩ CSGT không chỉ cần vững nghiệp vụ mà còn phải tinh thông công nghệ. Mỗi cán bộ ra đường giờ đây như một “trạm thông tin di động”, sử dụng các ứng dụng như VNeCSGT trên thiết bị thông minh để tra cứu dữ liệu, xử lý vi phạm ngay tại hiện trường một cách minh bạch và nhanh chóng. Bản lĩnh của người chiến sĩ còn nằm ở sự kiên định, thực thi pháp luật với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Sự khách quan của hệ thống camera AI giúp xóa bỏ các tranh cãi, đảm bảo tính công bằng, từ đó kiến tạo nên một văn hóa giao thông mới: Văn hóa tự giác.

Thách thức giao thông tại các đô thị lớn là rất lớn, nhưng với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh công nghệ và bản lĩnh của lực lượng CSGT, chúng ta đang dần tìm thấy lời giải thỏa đáng. Việc chuyển đổi sang "giao thông số" không chỉ giúp giảm tải cho lực lượng chức năng mà còn hướng tới mục tiêu cao nhất: Bảo vệ tính mạng, tài sản và sự bình yên của nhân dân trên mọi cung đường. Một kỷ nguyên giao thông minh bạch, an toàn và văn minh đang dần hiện hữu tại các đô thị trọng điểm của Việt Nam.

Đẩy mạnh ứng dụng AI, nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm tạo môi trường giao thông an toàn, văn minh

Bộ Công an đang xây dựng và tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 62/2024/TT-BCA ngày 12/11/2025 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Quy chuẩn kỹ thuật thuật quốc gia đối với hệ thống giám sát bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông đường bộ; thiết bị giám sát hành trình và thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe; Trung tâm chỉ huy giao thông.

Theo đó, dự thảo Quy chuẩn đã chuyển sang mô hình xử lý dữ liệu phân tán Bổ sung “cụm máy chủ vùng” và “thiết bị trung gian (Edge AI)” để dữ liệu được xử lý tại chỗ (edge), phân tích trước khi truyền về trung tâm giảm tải trung tâm. Cùng với đó, tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) toàn diện: Camera và thiết bị phải có khả năng: Nhận diện biển số ≥ 93% ban ngày; Phân tích hành vi vi phạm tự động; Tìm kiếm thông minh theo biển số, màu xe, loại xe. Chuẩn hóa dữ liệu và mở rộng kết nối (API, ONVIF): Quy chuẩn quy định rõ việc kết nối chia sẻ dữ liệu qua các hình thức: API chia sẻ dữ liệu vi phạm; Chuẩn ONVIF (G, S, T, M); Metadata AI (dữ liệu phân tích).

Yêu cầu cao về lưu trữ dữ liệu: Dữ liệu camera lưu tối thiểu 60 ngày; lưu tới 03 năm đối với dữ liệu vi phạm phục vụ công tác xử lý vi phạm; Điều tra, truy vết. Bổ sung yêu cầu về an toàn thông tin, an ninh mạng: Tuân thủ QCVN về camera IP và Quy định an ninh mạng của Bộ Công an.

Bổ sung cơ chế công bố hợp quy, kiểm soát chất lượng: Thiết bị bắt buộc công bố hợp quy; kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu. Ý nghĩa của việc sửa đổi, nâng cấp Quy chuẩn này đã tạo nền tảng cho giao thông thông minh (ITS) chuyển từ giám sát thủ công sang giám sát tự động, thông minh; Hỗ trợ điều hành giao thông theo thời gian thực; dự báo ùn tắc, tai nạn; nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm (phạt nguội) tự động phát hiện, ghi nhận, xử lý; giảm phụ thuộc vào con người nhằm tăng tính minh bạch; tính chính xác; tính răn đe; tăng cường an ninh, an toàn hệ thống, bảo vệ dữ liệu về cá nhân; phương tiện; hạn chế rủi ro tấn công mạng; rò rỉ dữ liệu; khắc phục tình trạng đầu tư manh mún, không đồng bộ khi có quy định chuẩn thống nhất toàn quốc.

Phạm Huyền-Hoài Thu-Phú Lữ-Minh Đức

Nguồn CAND: https://cand.vn/bai-1-thach-thuc-tai-cac-do-thi-lon-trong-qua-trinh-do-thi-hoa-post811871.html