{Bài 2} Cơ chế sàng lọc FDI: Nâng trách nhiệm địa phương từ thẩm định đến giám sát

Cơ chế sàng lọc nhà đầu tư FDI cần được thiết kế chặt chẽ, minh bạch, đồng bộ; trong đó địa phương giữ vai trò trực tiếp trong thẩm định, giám sát và đồng hành để bảo đảm chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài.

Cơ chế sàng lọc nhà đầu tư FDI cần được thiết kế chặt chẽ, minh bạch, đồng bộ; trong đó địa phương giữ vai trò trực tiếp trong thẩm định, giám sát và đồng hành để bảo đảm chất lượng dòng vốn đầu tư nước ngoài.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Từ yêu cầu chọn lọc nhà đầu tư FDI theo tinh thần Nghị quyết 10-NQ/TW, vấn đề đặt ra là phải xây dựng cơ chế sàng lọc đủ chặt chẽ, đồng bộ và khả thi để lựa chọn đúng nhà đầu tư, đúng dự án, đúng lĩnh vực ưu tiên.

Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 30/6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu sàng lọc chặt chẽ trong thu hút đầu tư nước ngoài, gắn với phát huy vai trò của địa phương trong tổ chức thực hiện.

Đây là yêu cầu quan trọng nhằm chuyển mạnh từ thu hút FDI theo số lượng sang chất lượng, gắn với nâng cao nội lực quốc gia, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh kinh tế và thúc đẩy phát triển bền vững.

SÀNG LỌC CHẶT CHẼ CÁC DỰ ÁN CÔNG NGHỆ LẠC HẬU, RỦI RO CAO

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo: “Phải sàng lọc chặt chẽ, không tiếp nhận các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc gây rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu”.

Chỉ đạo này đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế sàng lọc FDI theo hướng chặt chẽ, khoa học và đồng bộ hơn. Cơ chế sàng lọc cần có hệ thống tiêu chí rõ ràng, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, đồng thời phù hợp với đặc thù từng ngành, lĩnh vực và địa bàn thu hút đầu tư.

Trong đó, các dự án FDI cần được đánh giá toàn diện trước khi cấp phép, không chỉ về quy mô vốn, mà còn về trình độ công nghệ, hiệu quả sử dụng đất, tác động môi trường, khả năng đóng góp ngân sách, liên kết với doanh nghiệp trong nước, tuân thủ quy định về quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Một cơ chế sàng lọc hiệu quả cũng cần gắn với giám sát sau cấp phép. Việc thẩm định không dừng ở khâu chấp thuận chủ trương đầu tư hay cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, mà phải theo dõi thường xuyên quá trình triển khai dự án, nhất là việc thực hiện các cam kết về công nghệ, môi trường, sử dụng đất, lao động, nghĩa vụ thuế và trách nhiệm xã hội.

Cùng với đó, chính sách ưu đãi cần được thiết kế theo hướng có điều kiện, ưu tiên các dự án công nghệ cao, phát triển xanh, có cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tạo liên kết với doanh nghiệp trong nước.

Ngược lại, các dự án công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, sử dụng đất kém hiệu quả, có nguy cơ gây ô nhiễm, chuyển giá, trốn thuế, lẩn tránh xuất xứ hoặc phát sinh rủi ro đối với quốc phòng, an ninh, dữ liệu và hạ tầng trọng yếu cần được sàng lọc, kiểm soát ngay từ đầu.

Việc xây dựng cơ chế sàng lọc FDI phải bảo đảm minh bạch, ổn định, phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư tốt, có chiến lược dài hạn và đóng góp thực chất vào quá trình phát triển của Việt Nam.

ĐỊA PHƯƠNG GIỮ VAI TRÒ TRỰC TIẾP TRONG THẨM ĐỊNH VÀ GIÁM SÁT

Trong thu hút và quản lý FDI, địa phương là cấp trực tiếp tiếp cận, xúc tiến, thẩm định ban đầu, quản lý quá trình triển khai dự án và giám sát việc thực hiện cam kết của nhà đầu tư. Vì vậy, hiệu quả sàng lọc FDI phụ thuộc lớn vào năng lực và trách nhiệm của chính quyền địa phương.

Trước hết, các địa phương cần xây dựng kế hoạch thu hút FDI có chọn lọc, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, lợi thế cạnh tranh của từng vùng, từng khu kinh tế, khu công nghiệp. Việc thu hút đầu tư không nên chạy theo số lượng dự án hoặc quy mô vốn đăng ký, mà phải đặt trọng tâm vào chất lượng, công nghệ, hiệu quả sử dụng tài nguyên và khả năng lan tỏa.

Hoạt động xúc tiến đầu tư cũng cần có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới các tập đoàn lớn, nhà đầu tư chiến lược và các lĩnh vực phù hợp với định hướng phát triển quốc gia. Thay vì tiếp cận dàn trải, địa phương cần chuẩn bị kỹ danh mục dự án, quỹ đất, hạ tầng, nguồn nhân lực và cơ chế hỗ trợ để làm việc hiệu quả với các nhà đầu tư có chất lượng.

Ở khâu thẩm định, địa phương cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương để đánh giá đầy đủ tác động kinh tế - xã hội, môi trường, công nghệ, quốc phòng, an ninh và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước. Đây là khâu quan trọng để loại bỏ các dự án không phù hợp ngay từ giai đoạn đầu.

Sau khi dự án được triển khai, địa phương có trách nhiệm đồng hành với nhà đầu tư trong giải phóng mặt bằng, phát triển hạ tầng, đào tạo lao động, kết nối chuỗi cung ứng và tháo gỡ vướng mắc phát sinh. Tuy nhiên, việc đồng hành phải đi đôi với giám sát chặt chẽ, kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm cam kết, gây ô nhiễm môi trường, sử dụng đất kém hiệu quả, chuyển giá, trốn thuế hoặc phát sinh rủi ro đối với an ninh kinh tế.

Bên cạnh đó, địa phương cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, hình thành các cụm công nghiệp và chuỗi cung ứng bền vững, qua đó tăng khả năng lan tỏa công nghệ, quản trị và kỹ năng lao động.

Để phát huy vai trò này, việc phân cấp, phân quyền cho địa phương trong thu hút và quản lý FDI cần đi kèm với cơ chế kiểm tra, giám sát rõ ràng từ Trung ương. Trách nhiệm của người đứng đầu cũng cần được xác định cụ thể, gắn với chất lượng dự án, hiệu quả sử dụng đất, bảo vệ môi trường và đóng góp thực chất của FDI đối với phát triển địa phương.

Khi cơ chế sàng lọc được vận hành đồng bộ, cùng với vai trò chủ động của địa phương, dòng vốn FDI sẽ được định hướng vào các lĩnh vực có chất lượng cao, đóng góp tích cực hơn cho nâng cao nội lực, đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển bền vững của Việt Nam.

Lý Hà

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/bai-2-co-che-sang-loc-fdi-nang-trach-nhiem-dia-phuong-tu-tham-dinh-den-giam-sat.htm