Bài 2. Vốn giảm nghèo quý IV: giải ngân không phải thước đo duy nhất

Đến 30/9/2026, vốn ngân sách trung ương của Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 được kéo dài sang năm 2026 mới giải ngân khoảng 37% vốn đầu tư và 30% kinh phí thường xuyên, trong khi hạn chót là 31/12/2026. Theo Nghị định số 387/2026/NĐ-CP, tiến độ giải ngân chỉ chiếm tối đa 30/100 điểm khi đánh giá kết quả thực hiện Chương trình. Báo Kiểm toán trao đổi với ông Phạm Hồng Đào, Phó Chánh Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, về nguyên nhân, cách xử lý và cách nhìn mới về hiệu quả đồng vốn giảm nghèo.

Ông Phạm Hồng Đào: “Giải ngân là chỉ báo tiến độ, không phải thước đo duy nhất”. Ảnh: Hoàng Dũng

Ông Phạm Hồng Đào: “Giải ngân là chỉ báo tiến độ, không phải thước đo duy nhất”. Ảnh: Hoàng Dũng

PV: Thưa ông, theo Báo cáo giám sát số 589/BC-HĐDT16 của Hội đồng Dân tộc, Chương trình giảm nghèo bền vững còn 4.835,95 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương được kéo dài sang năm 2026, trong đó 3.622,9 tỷ đồng là kinh phí thường xuyên. Đến 30/9, theo Bộ Tài chính, mới giải ngân khoảng 37% vốn đầu tư và 30% kinh phí thường xuyên. Ông đánh giá thế nào?

Ông Phạm Hồng Đào: Theo báo cáo của Bộ Tài chính (Báo cáo số 817/BC-BTC ngày 02/10/2026), lũy kế đến hết 30/9/2026, (i) đối với vốn năm 2025 được kéo dài thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi): vốn đầu tư nguồn ngân sách trung ương đạt 44% kế hoạch đã kéo dài; (ii) đối với vốn năm 2026 thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030: vốn đầu tư nguồn ngân sách trung ương đạt 2,7% kế hoạch, vốn sự nghiệp nguồn ngân sách trung ương đạt 2,2% kế hoạch. Riêng Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, vốn ngân sách trung ương được kéo dài sang năm 2026 là 4.835,95 tỷ đồng, trong đó 3.622,9 tỷ đồng là kinh phí thường xuyên; đến 30/9/2026 mới giải ngân khoảng 37% vốn đầu tư và 30% kinh phí thường xuyên.

Tỷ lệ giải ngân chưa đạt như kỳ vọng, đặc biệt trong bối cảnh chỉ còn một quý để kết thúc năm 2026, là một thách thức rất lớn đối với các bộ, ngành, địa phương gắn với tăng trưởng hai con số và mục tiêu giải ngân trong đánh giá trách nhiệm thực hiện chương trình mục tiêu. Nguyên nhân có thể kể đến do việc phân bổ ngân sách chậm xuất phát từ khâu lập kế hoạch ngân sách chậm; việc rà soát, điều chỉnh nội dung, phạm vi, mục tiêu, nguồn vốn các dự án cần có thời gian; biến động giá đầu vào; do ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan; năng lực, trình độ của cán bộ cấp cơ sở…

PV: Vì sao kinh phí thường xuyên, vốn không phải xây dựng, lại khó giải ngân hơn vốn đầu tư?

Ông Phạm Hồng Đào: Dù nguồn kinh phí thường xuyên hay nguồn đầu tư thì việc triển khai dự án phải tuân thủ theo quy trình, thủ tục luật định. Với mỗi loại dự án sẽ có quy định riêng, tùy theo điều kiện thực tế địa phương, địa phương có thể ban hành quy định đặc thù để đẩy nhanh việc thực hiện. Đối với các dự án hỗ trợ sinh kế sử dụng vốn sự nghiệp, có đặc thù gắn với điều kiện tự nhiên, mang tính thời vụ, năng lực triển khai của đối tượng tham gia… Thêm vào đó, mưa lớn kéo dài, biến động giá cả đầu vào sản xuất trong thời gian gần đây cũng làm chậm các hoạt động phát triển sản xuất của hộ gia đình. Mặc dù đã có quy định chuyển nguồn thực hiện dự án để đẩy nhanh việc giải ngân, tuy nhiên, sau sắp xếp chính quyền hai cấp, có nhiều biến động về nhân sự, điều kiện làm việc, công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành, việc phân cấp triển khai ở cơ sở… nên vẫn còn tình trạng một số địa phương còn lúng túng khi xử lý các khoản “đã hết nhiệm vụ chi” hoặc “còn nhiệm vụ chi nhưng không thực hiện được”, dù đã được phân cấp, quyết định, điều chỉnh.

Sản xuất nông nghiệp vùng cao gắn với điều kiện tự nhiên, mang tính thời vụ, nên các dự án hỗ trợ sinh kế dùng vốn sự nghiệp khó giải ngân hơn vốn đầu tư. Ảnh: Hữu Nghị

Sản xuất nông nghiệp vùng cao gắn với điều kiện tự nhiên, mang tính thời vụ, nên các dự án hỗ trợ sinh kế dùng vốn sự nghiệp khó giải ngân hơn vốn đầu tư. Ảnh: Hữu Nghị

PV: Cấp xã sau sắp xếp đang gánh nhiều việc. Theo Hội đồng Dân tộc, mới 7/34 địa phương quy định mức hỗ trợ dự án phát triển sản xuất và 2/34 địa phương quy định cách giao cộng đồng tự thực hiện. Cán bộ xã có đủ sức làm giảm nghèo không?

Ông Phạm Hồng Đào: Một trong các nguyên nhân triển khai chương trình chậm, tiến độ giải ngân thấp đó là cán bộ thực thi cấp cơ sở. Thực tế cho thấy, đa phần cán bộ cấp cơ sở thực hiện chương trình là cán bộ mới, chưa tiếp cận nội dung này trước đây, do vậy, gặp khó khăn trong quá trình thực hiện là điều khó tránh khỏi, đặc biệt là khi thực hiện chính quyền địa phương hai cấp với yêu cầu khối lượng công việc rất lớn cần triển khai trong điều kiện thời gian có hạn. Cấp xã phải làm từ xác định đối tượng, lập dự án sinh kế, nghiệm thu đến cập nhật dữ liệu, trong khi nhiều vị trí phải kiêm nhiệm. Phân cấp chỉ bền vững khi đồng bộ năm yếu tố: thẩm quyền, nhiệm vụ, nguồn lực, nhân lực và dữ liệu. Tập huấn cũng phải chuyển từ phổ biến văn bản sang hướng dẫn theo quy trình công việc thực tế, ưu tiên xã vùng khó khăn. Trung ương đã ban hành cẩm nang tra cứu thực hiện chương trình, tuy nhiên, điều này là chưa đủ, vẫn cần phải thường xuyên nâng cao năng lực thực hiện, đồng bộ dữ liệu quản lý, triển khai từ trung ương đến cơ sở.

Nghị định số 387/2026/NĐ-CP cũng đã đơn giản hóa thủ tục cho cấp xã: dự án quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản chỉ lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đơn giản, thời gian thẩm định không quá 10 ngày làm việc; dự án có tổng mức đầu tư dưới 500 triệu đồng mà cộng đồng đủ năng lực thì Ủy ban nhân dân cấp xã có thể giao cộng đồng tự thực hiện thông qua Ban phát triển thôn. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cần sớm ban hành danh mục dự án đặc thù, thiết kế mẫu và quy trình bảo trì mẫu để cấp xã áp dụng.

PV: Ba tháng còn lại của năm 2026, Văn phòng Điều phối sẽ làm gì?

Ông Phạm Hồng Đào: Thực hiện chỉ đạo của cấp có thẩm quyền trên cơ sở Quyết định số 1966/QĐ-TTg ngày 12/10/2026 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Chương trình và Nghị định số 387/2026/NĐ-CP ngày 12/10/2026 của Chính phủ, Văn phòng Điều phối Trung ương sẽ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu cấp có thẩm quyền thực hiện chương trình giai đoạn 2026-2030 theo đúng nhiệm vụ được phân công, phân cấp. Đồng thời, tiếp tục theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các chương trình năm 2025 chuyển nguồn theo phân công và chương trình năm 2026 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định.

PV: Nếu một phần vốn không thể giải ngân trước 31/12/2026, quyền lợi của hộ nghèo có bị ảnh hưởng không?

Ông Phạm Hồng Đào: Đối với các dự án được chuyển nguồn năm 2025 sang năm 2026 thực hiện mà đã hết mục tiêu, đối tượng, nội dung thì đơn vị triển khai rà soát để chuyển nguồn sang dự án khác còn mục tiêu, đối tượng, nội dung để thực hiện, bảo đảm không làm thay đổi cơ cấu chi đầu tư, chi thường xuyên và không vượt tổng mức đã được cấp có thẩm quyền giao trong năm của từng chương trình mục tiêu quốc gia. Trường hợp không còn nhiệm vụ chi hoặc còn nhiệm vụ chi nhưng không thực hiện được, được sử dụng kinh phí, vốn còn lại để thực hiện các nội dung, nhiệm vụ, dự án đầu tư thuộc Chương trình giai đoạn 2026-2030.

Nghị định số 387/2026/NĐ-CP cũng quy định số dư dự toán, số dư tạm ứng và kế hoạch vốn của các dự án, nhiệm vụ giai đoạn 2021-2025 chuyển tiếp sang Chương trình được tiếp tục theo dõi, hạch toán và giải ngân liên tục, không làm gián đoạn tiến độ; quy trình, thủ tục thanh toán vốn hỗ trợ cho các đối tượng tiếp tục thực hiện theo Nghị định số 358/2025/NĐ-CP đến hết ngày 31/12/2026.

Do đó, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương tiếp tục rà soát đến từng nhiệm vụ, dự án; xác định rõ số vốn còn lại, khối lượng thực hiện, tiến độ và nguyên nhân chậm giải ngân. Tập trung xử lý các khó khăn về đất đai, tái định cư, biến động giá vật liệu, thủ tục đầu tư, xác định đối tượng thụ hưởng, nghiệm thu, thanh toán và quyết toán; kịp thời xử lý theo thẩm quyền đối với các khoản kinh phí đã hết nhiệm vụ chi, không còn nhiệm vụ chi hoặc không thể tiếp tục thực hiện, phấn đấu giải ngân hết nguồn vốn được phép kéo dài trong năm 2026.

PV: Theo Báo cáo số 817/BC-BTC ngày 02/10/2026 của Bộ Tài chính, đến 30/9/2026, vốn ngân sách trung ương năm 2026 của các chương trình mục tiêu quốc gia mới giải ngân 2,7% vốn đầu tư và 2,2% kinh phí thường xuyên. Vì sao vốn mới lại chậm như vậy, thưa ông?

Ông Phạm Hồng Đào: Theo Báo cáo số 817/BC-BTC ngày 02/10/2026 của Bộ Tài chính, có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân vốn được giao muộn và nhiều đợt; đến 30/9 vẫn còn 11 địa phương chưa phân bổ, chủ yếu do chưa ban hành xong nguyên tắc, tiêu chí, định mức và tỷ lệ vốn đối ứng. Đối với kế hoạch vốn năm 2026 của Chương trình theo Nghị quyết số 257/2025/QH15, cần tập trung hoàn thành phân bổ chi tiết dự toán, kế hoạch vốn ngân sách trung ương; bố trí vốn đối ứng ngân sách địa phương theo quy định; khẩn trương hoàn thiện thủ tục đầu tư, lựa chọn nhà thầu, tổ chức thực hiện, nghiệm thu, thanh toán và quyết toán. Việc bố trí và sử dụng vốn phải bám sát mục tiêu, nhiệm vụ, nhu cầu thực tế và khả năng tổ chức thực hiện; ưu tiên công trình thiết yếu, địa bàn đặc biệt khó khăn và các nhiệm vụ trực tiếp góp phần hoàn thành mục tiêu của Chương trình; không phân bổ bình quân, dàn trải. Theo Nghị định số 387/2026/NĐ-CP, đối với dự toán năm 2026 được giao bổ sung kể từ ngày 12/10/2026, bộ, ngành, địa phương được lựa chọn áp dụng cơ chế của chương trình trước hợp nhất hoặc cơ chế mới để phân bổ, phê duyệt và tổ chức thực hiện.

Theo Nghị định số 387/2026/NĐ-CP, khi đánh giá kết quả thực hiện Chương trình, tiến độ phân bổ, giải ngân chiếm tối đa 30/100 điểm; kết quả thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu chiếm tối đa 60 điểm. Ảnh: Hữu Nghị

Theo Nghị định số 387/2026/NĐ-CP, khi đánh giá kết quả thực hiện Chương trình, tiến độ phân bổ, giải ngân chiếm tối đa 30/100 điểm; kết quả thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu chiếm tối đa 60 điểm. Ảnh: Hữu Nghị

PV: Ông có cho rằng tỷ lệ giải ngân là thước đo đúng cho giảm nghèo?

Ông Phạm Hồng Đào: Giải ngân là chỉ báo tiến độ, không phải thước đo duy nhất, việc giải ngân phải gắn với mục tiêu, đối tượng thụ hưởng và nội dung triển khai. Với giảm nghèo, không chỉ đơn thuần làm giảm tỷ lệ hộ nghèo hằng năm mà giảm nghèo đa chiều, bao trùm và bền vững, không tái nghèo. Giảm nghèo phải thực chất, giảm các chiều thiếu hụt về việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, tiếp cận thông tin và quan trọng nhất là thay đổi nhận thức của người dân phải chủ động vươn lên thoát nghèo bền vững, không trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước.

Nghị định số 387/2026/NĐ-CP đã thể hiện rõ cách tiếp cận này: trong khung đánh giá kết quả đầu ra 100 điểm, tiến độ phân bổ, giải ngân chiếm tối đa 30 điểm; kết quả thực hiện mục tiêu, chỉ tiêu chuyên ngành chiếm tối đa 60 điểm, trong đó giảm nghèo bền vững chiếm tối đa 8 điểm; sự hài lòng của Nhân dân đối với kết quả thực hiện từng nhóm nội dung của Chương trình chiếm tối đa 10 điểm.

PV: Xin cảm ơn ông!

Hoàng Dũng

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/bai-2-von-giam-ngheo-quy-iv-giai-ngan-khong-phai-thuoc-do-duy-nhat