Bài 3. Đo đúng nghèo, giám sát chặt để đồng vốn đến đúng người

Từ năm 2027, chuẩn nghèo đa chiều mới theo Nghị định số 351/2025/NĐ-CP chính thức được áp dụng; khoảng 5,1 triệu bản ghi dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo đã được đối soát với dữ liệu dân cư. Báo Kiểm toán trao đổi với ông Phạm Hồng Đào, Phó Chánh Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, về cách đo lường, theo dõi và giám sát để giảm nghèo thực chất, đồng vốn đến đúng người.

Ông Phạm Hồng Đào: “Nếu tỷ lệ nghèo tăng khi chuyển sang chuẩn mới thì đó là do thước đo cao hơn, không có nghĩa là người dân nghèo đi”. Ảnh: Hoàng Dũng

Ông Phạm Hồng Đào: “Nếu tỷ lệ nghèo tăng khi chuyển sang chuẩn mới thì đó là do thước đo cao hơn, không có nghĩa là người dân nghèo đi”. Ảnh: Hoàng Dũng

PV: Thưa ông, năm 2026 các địa phương đang áp dụng chuẩn nghèo nào?

Ông Phạm Hồng Đào: Năm 2026, tiếp tục áp dụng chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025, làm căn cứ thực hiện chính sách giảm nghèo trong năm. Chuẩn nghèo mới tại Nghị định 351/2025/NĐ-CP áp dụng cho giai đoạn 2027-2030. Hiện các địa phương vừa rà soát tỷ lệ nghèo năm 2026 theo chuẩn cũ, vừa xác định số liệu đầu kỳ theo chuẩn mới để giao chỉ tiêu từ năm 2027 theo quy trình, phương pháp hướng dẫn tại Thông tư số 25/2026/TT-BNNMT ngày 27/5/2026 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn quy trình, phương pháp rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2027-2030. Chuẩn nghèo giai đoạn 2027-2030 về cơ bản kế thừa chuẩn nghèo giai đoạn 2022-2025 và có sự điều chỉnh để phù hợp với chỉ đạo của Đảng, Nhà nước nhằm đáp ứng mức sống tối thiểu và giảm bớt thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản tại Chỉ thị số 05-CT/TW cũng như Nghị quyết số 42-NQ/TW.

PV: Khi đổi chuẩn, tỷ lệ nghèo chắc chắn sẽ thay đổi. Hội đồng Dân tộc cảnh báo biến động do đổi chuẩn có thể bị đồng nhất với kết quả thực hiện Chương trình. Làm sao tránh điều này?

Ông Phạm Hồng Đào: Thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 23/6/2021 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XIII về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo bền vững đến năm 2030 với nhiệm vụ, giải pháp “Tiếp tục hoàn thiện chính sách giảm nghèo, chuẩn nghèo đa chiều gắn với mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm mức sống tối thiểu tăng dần và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; đổi mới cách tiếp cận về giảm nghèo, ban hành chính sách hỗ trợ có điều kiện, tăng cường tín dụng chính sách xã hội cho người nghèo, bảo trợ xã hội đối với hộ nghèo không có khả năng lao động”; Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới với mục tiêu đến năm 2030 “Hoàn thiện chính sách an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, toàn diện, hiện đại, bao trùm, bền vững; tạo cơ hội cho Nhân dân, nhất là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, người sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là về y tế, giáo dục, nhà ở, thông tin” và nhiệm vụ, giải pháp: “Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp giảm nghèo bền vững theo hướng đa chiều, bao trùm, bảo đảm mức sống tối thiểu và các dịch vụ xã hội cơ bản; hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng sinh kế, từng bước nâng cao thu nhập, ổn định cuộc sống lâu dài cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”.

Do vậy, chuẩn nghèo giai đoạn 2027-2030 tiếp tục kế thừa và hoàn thiện chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025, trong đó, tiêu chí thu nhập phải bảo đảm ít nhất bằng mức sống tối thiểu (trong điều kiện tăng trưởng 2 con số, GDP bình quân đầu người đến năm 2030 khoảng 8.500 USD) và điều chỉnh nâng cao chất lượng các chiều tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản hiện nay, bổ sung chiều tiếp cận về môi trường để bảo đảm phù hợp với thực tế. Vì vậy, nếu tỷ lệ nghèo tăng khi chuyển sang chuẩn mới thì đó là do thước đo cao hơn, không có nghĩa là người dân nghèo đi. Từ năm 2027, chỉ tiêu và kết quả giảm nghèo sẽ được tính trên số liệu đầu kỳ xác định theo chuẩn mới, không so trực tiếp với tỷ lệ nghèo năm 2025 theo chuẩn cũ.

Từ năm 2027, chuẩn nghèo đa chiều theo Nghị định số 351/2025/NĐ-CP được áp dụng, đo cả thu nhập và mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản. Ảnh: Hữu Nghị

Từ năm 2027, chuẩn nghèo đa chiều theo Nghị định số 351/2025/NĐ-CP được áp dụng, đo cả thu nhập và mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản. Ảnh: Hữu Nghị

PV: Cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo hiện đến đâu, thưa ông?

Ông Phạm Hồng Đào: Theo Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, cập nhật Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/01/2026 của Chính phủ, Chính phủ giao Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo, hoàn thành khai thác và sử dụng trong tháng 12/2026. Hiện nay, Văn phòng Điều phối Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan đang xây dựng hồ sơ dự thảo Thông tư khung kiến trúc dữ liệu, khung quản trị, quản lý dữ liệu và từ điển dữ liệu cơ sở dữ liệu quốc gia hộ nghèo, cận nghèo, dự kiến trình Bộ trưởng ban hành trong tháng 10/2026; đồng thời, phối hợp với các đơn vị liên quan xây dựng phần mềm rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Khoảng 5,1 triệu bản ghi dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo đã được đối soát, làm sạch với dữ liệu của C06. Trong đó, đã kết nối, chia sẻ 662 nghìn hộ nghèo, hộ cận nghèo, khoảng 2,6 triệu bản ghi, với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, đang kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về an sinh xã hội. Kết quả này tạo nền tảng để tiếp tục hoàn thiện, chuẩn hóa và khai thác dữ liệu phục vụ quản lý nhà nước về giảm nghèo và thực hiện chính sách an sinh xã hội. Cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo sẽ là căn cứ quan trọng trong việc đề xuất các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội và quản lý hộ nghèo, hộ cận nghèo trên phạm vi cả nước.

PV: Một số địa phương đề nghị có phần mềm rà soát hộ nghèo thống nhất; Đắk Lắk đề nghị nghiên cứu chuẩn nghèo riêng cho đồng bào dân tộc thiểu số; Lâm Đồng đề nghị tiêu chí phân loại hộ nghèo linh hoạt hơn. Ông trả lời thế nào?

Ông Phạm Hồng Đào: Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2027-2030 (Nghị định số 351/2025/NĐ-CP). Căn cứ điều kiện thực tế, địa phương có thể quy định chuẩn nghèo đa chiều của địa phương cao hơn so với chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2027-2030 (nâng mức tiêu chí về thu nhập; điều chỉnh, bổ sung các chiều, chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản; quy định về đo lường chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản) làm căn cứ thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ giảm nghèo đặc thù trên địa bàn.

Hiện nay, hệ thống phần mềm thu thập, cập nhật dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo chưa hoàn thiện để đưa vào sử dụng đồng bộ; việc bố trí kinh phí vẫn đang được đề xuất, trong khi yêu cầu hoàn thành, chuyển giao và tập huấn cho địa phương trong năm 2026 đặt ra áp lực lớn về tiến độ triển khai, kiểm thử, bảo đảm an toàn, bảo mật và kết nối dữ liệu. Nghị định số 387/2026/NĐ-CP đã xác định xây dựng, vận hành phần mềm và cơ sở dữ liệu về hộ nghèo, hộ cận nghèo là một nội dung của Chương trình (điểm d khoản 1 Điều 8); đây là căn cứ để bố trí kinh phí thực hiện.

PV: Nhiều báo cáo địa phương vẫn nêu tình trạng một bộ phận hộ nghèo, kể cả hộ đã thoát nghèo, còn tâm lý trông chờ. Chính sách mới giải quyết việc này ra sao?

Ông Phạm Hồng Đào: Cần khẳng định rằng đích đến của các chương trình mục tiêu quốc gia không chỉ là giúp người dân thoát nghèo, mà phải mở ra một con đường phát triển bền vững. Để người nghèo có thể tự tin làm chủ tương lai của chính mình, thì việc trao quyền và tạo năng lực tự thân để khơi dậy ý chí tự vươn lên thoát nghèo, không trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước thông qua các cơ chế hỗ trợ phát triển sản xuất (hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, hỗ trợ cộng đồng, hỗ trợ theo nhiệm vụ, hỗ trợ đặc thù); ưu tiên hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; thông qua truyền thông nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi… có ý nghĩa quyết định để thoát nghèo bền vững. Các chính sách hỗ trợ cần tăng cường hỗ trợ có điều kiện để giúp người nghèo chủ động và nâng cao trách nhiệm thực hiện.

Đồng thời, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong toàn bộ quá trình thực hiện Chương trình theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”: người dân tham gia lựa chọn danh mục dự án hỗ trợ, tự giám sát; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lấy ý kiến người dân cấp xã và đánh giá sự hài lòng của Nhân dân đối với kết quả thực hiện Chương trình. Các chính sách giảm nghèo thiết kế lấy con người làm trung tâm, làm động lực phát triển, giải quyết vấn đề phải đi vào thực chất, hiệu quả. Theo Nghị định số 387/2026/NĐ-CP, mỗi dự án phát triển sản xuất phải bảo đảm tối thiểu 50% người dân tham gia là đối tượng hỗ trợ của Chương trình, ưu tiên dự án có trên 70% người tham gia thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, hộ dân tộc thiểu số.

PV: Truyền thông có vai trò gì trong việc này, thưa ông?

Ông Phạm Hồng Đào: Truyền thông luôn là một nội dung thực hiện và là một trong các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Chương trình. Trong giai đoạn mới, truyền thông cần được đổi mới, phù hợp với sự thay đổi về công nghệ, phương pháp tiếp cận; đặc biệt truyền thông phải làm thay đổi nhận thức của người dân, khơi dậy ý chí, tinh thần tự lực tự cường vươn lên thoát nghèo của người dân và cộng đồng, phù hợp với đặc thù địa phương, vùng miền, lan tỏa trong xã hội gương người tốt, việc tốt. Nghị định số 387/2026/NĐ-CP đã xác định thông tin, tuyên truyền, truyền thông là một nội dung của Chương trình, trong đó có việc cung cấp thông tin về mục tiêu, chính sách, nguồn lực, tiến độ và kết quả thực hiện cho cơ quan báo chí và người dân; sản xuất, đăng tải sản phẩm truyền thông trên báo chí, hệ thống thông tin cơ sở và nền tảng số.

Theo Nghị định số 387/2026/NĐ-CP, mỗi dự án phát triển sản xuất phải bảo đảm tối thiểu 50% người dân tham gia là đối tượng hỗ trợ của Chương trình. Ảnh: Hữu Nghị

Theo Nghị định số 387/2026/NĐ-CP, mỗi dự án phát triển sản xuất phải bảo đảm tối thiểu 50% người dân tham gia là đối tượng hỗ trợ của Chương trình. Ảnh: Hữu Nghị

PV: Theo ông, sau năm 2026, giảm nghèo sẽ được đánh giá bằng những chỉ số nào?

Ông Phạm Hồng Đào: Các mục tiêu về giảm nghèo trong Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ là chỉ số để đánh giá kết quả thực hiện theo năm hoặc theo giai đoạn, trong đó mục tiêu giảm tỷ lệ nghèo đa chiều từ 1-1,5%/năm sẽ là chỉ tiêu tổng quát nhất vì liên quan đến tiêu chí thu nhập, liên quan đến tiêu chí giảm bớt thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản như việc làm, dạy nghề, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, tiếp cận thông tin. Bên cạnh đó còn có các chỉ tiêu giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, chỉ tiêu thu nhập bình quân để đánh giá tác động của Chương trình tới đời sống người dân và người nghèo như thế nào.

Theo Nghị định số 387/2026/NĐ-CP, nhóm tiêu chí giảm nghèo bền vững chiếm tối đa 8/100 điểm trong khung đánh giá kết quả đầu ra; các bộ quản lý ngành ban hành bộ chỉ số đo lường chỉ tiêu thành phần trước ngày 31/12/2026. Kết quả đánh giá cả năm được công bố trước ngày 31/3 năm sau; nhóm tiêu chí đạt dưới 50% điểm tối đa sẽ bị cảnh báo và cơ quan, đơn vị phải giải trình nguyên nhân, giải pháp khắc phục.

PV: Trong bài viết trên Báo Kiểm toán, ông đã đưa Kiểm toán nhà nước vào nhóm giải pháp hậu kiểm. Ông kỳ vọng gì ở sự phối hợp này?

Ông Phạm Hồng Đào: Khi phân cấp mạnh, hậu kiểm càng quan trọng. Những rủi ro cần quan tâm là hỗ trợ sai đối tượng hoặc trùng lặp sau khi gộp chương trình, dự án sinh kế hình thức, huy động quá sức dân và chi vội vào cuối năm. Do vậy, việc theo dõi, kiểm tra cần được thực hiện thường xuyên, không quá cứng nhắc có kế hoạch mới thực hiện hoặc có vấn đề phát sinh mới kiểm tra, đánh giá. Quan trọng nhất là làm đúng ngay từ đầu, làm theo đúng quy trình, quy định; điều này không phải là hạn chế sự sáng tạo, đột phá trong triển khai Chương trình mà là kiểm soát rủi ro, sai phạm ở mức thấp nhất có thể. Do đó, sự giám sát của Nhân dân, của các tổ chức phản biện xã hội và của Kiểm toán Nhà nước luôn được đánh giá và đề cao trong quá trình thực hiện chương trình.

Chúng tôi mong Kiểm toán nhà nước tiếp tục tăng cường kiểm toán chuyên đề về hiệu quả sử dụng vốn Chương trình, nhất là các dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, sinh kế; đồng thời chia sẻ kịp thời các phát hiện, kiến nghị để cấp có thẩm quyền chấn chỉnh ngay trong quá trình thực hiện theo quy định và theo phân cấp, không đợi đến khi kết thúc giai đoạn. Nghị định số 387/2026/NĐ-CP cũng quy định từng nguồn vốn, kinh phí lồng ghép phải được theo dõi, hạch toán, thanh toán, quyết toán riêng, bảo đảm đầy đủ hồ sơ phục vụ kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; khi đánh giá giữa kỳ, điểm trừ do vi phạm được xác định căn cứ kết luận thanh tra, báo cáo kiểm toán và văn bản kết luận khác của cơ quan có thẩm quyền.

PV: Xin cảm ơn ông!

Hoàng Dũng

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/bai-3-do-dung-ngheo-giam-sat-chat-de-dong-von-den-dung-nguoi