Bài 3: Không nên áp dụng mức giảm trừ y tế, giáo dục chung cho mọi đối tượng người nộp thuế
Chuyên gia thuế Nguyễn Văn Được cho rằng, phương án áp dụng mức giảm trừ y tế, giáo dục - đào tạo chung cho mọi đối tượng có thể gây thiếu công bằng và nhanh lỗi thời, cần thay đổi chính sách linh hoạt hơn theo từng nhóm người nộp thuế.
Bài 1: Lần đầu đề xuất giảm trừ thuế cho chi phí y tế, giáo dục - đào tạo tới gần 50 triệu đồng/năm
Bài 2: Kinh nghiệm giảm trừ khoản chi y tế, giáo dục - đào tạo từ các nước
Bộ Tài chính đang lấy ý kiến về việc bổ sung các khoản giảm trừ chi phí y tế, giáo dục khi tính thuế TNCN trong đó đề xuất 2 phương án với mức chi phí được trừ từ 41 - 47 triệu đồng/năm.
Chia sẻ với Tạp chí Tài chính doanh nghiệp, Luật sư, thạc sỹ Nguyễn Văn Được, Ủy viên Ban Chấp hành Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và Tư vấn Thuế Trọng Tín cho rằng, dự thảo và đưa ra những ngưỡng cụ thể khi xác định chi phí giáo dục và y tế. Mức chi phí này được xây dựng trên cơ sở chi tiêu bình quân về y tế và giáo dục của người nộp thuế cũng như người phụ thuộc. Về cơ bản, tiêu thức, tiêu chí này đã phù hợp với mục tiêu đặt ra.
Tuy nhiên, tôi cho rằng việc đưa một mức cố định trong quy định của pháp luật, cũng như việc gộp cả chi phí y tế, chi phí giáo dục của người nộp thuế và người phụ thuộc vào cùng một mức như vậy là chưa thực sự phù hợp. Bởi mỗi đối tượng là khác nhau có mức chi tiêu về y tế và giáo dục khác nhau, và đặc biệt, ngưỡng này có khả năng sẽ bị lỗi thời trong quá trình phát triển của nền kinh tế.

Ông Nguyễn Văn Được.
Như vậy, theo ông, áp dụng mức chung sẽ có bất cập?
Chúng ta cần hiểu rằng chi phí y tế, giáo dục ở đây không phải là tổng chi phí thực tế phát sinh, mà là phần chi phí thực tế còn lại sau khi đã trừ đi các khoản được bảo hiểm y tế, bảo hiểm và các khoản chi trả, đài thọ khác theo quy định của pháp luật.
Như chúng ta đã thấy, trong tương lai sẽ tiến tới thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân. Ngoài ra, tới đây cũng sẽ triển khai miễn học phí cho cấp học phổ thông, trung học và các cấp học khác. Như vậy, chi phí giáo dục thực tế đã được nhà nước đài thọ một phần. Do đó, mức chi phí mà chúng ta đang tính toán hiện nay, dù có thể ở mức thấp, vẫn cần được xem xét trong tổng thể các chính sách tương lai để bảo đảm phù hợp.
Rõ ràng, với những người nộp thuế còn trẻ, chi phí cho giáo dục thường có xu hướng cao hơn, đặc biệt khi có người phụ thuộc ở độ tuổi đi học. Ngược lại, đối với người nộp thuế hoặc người phụ thuộc ở độ tuổi cao hơn, chi phí y tế lại chiếm tỷ trọng lớn hơn.
Việc áp mức chung sẽ khiến có nhóm đối tượng bị “thiệt” do không tận dụng được phần chi phí thực tế, trong khi nhóm khác lại không được hỗ trợ đúng mức. Như vậy, chính sách sẽ kém linh hoạt và kém hiệu quả, cần được cân nhắc tính toán kỹ hơn.
Ông có đề xuất gì để chính sách giảm trừ y tế, giáo dục vừa linh hoạt, vừa đảm bảo công bằng cho người nộp thuế?
Theo tôi, việc quy định mức trần là cần thiết, nhưng cách thiết kế mức trần nên điều chỉnh theo hướng linh hoạt để vừa bảo đảm kiểm soát hợp lý, vừa phù hợp với từng đối tượng.
Trước tiên, không nên tách bạch mức trần chi phí giáo dục và y tế riêng lẻ mà nên quy định trần chi phí y tế và giáo dục là mức chung cho mỗi người nộp thuế. Bằng cách này, người nộp thuế có chi phí y tế cao nhưng chi phí giáo dục ít hoặc ngược lại người nộp thuế có chi phí giáo dục thấp nhưng chi phí y tế lại cao nhưng tổng chi phí giáo dục và y tế không vượt quá “mức trần” như đã quy định, điều này tạo sự công bằng, bình đẳng cho các đối tượng đồng thời hỗ trợ đúng từng đối tượng người nộp thuế có nhu cầu thực tế.
Thứ hai, cần tách chi phí giáo dục, y tế của người nộp thuế riêng và chi phí giáo dục y tế của người phụ thuộc riêng với mức trần khác nhau cho mỗi người nộp thuế cũng như mỗi người phụ thuộc. Cách làm này sẽ giúp cho chính sách được linh hoạt và tạo công bằng hơn.
Đơn cử, nếu tôi có bốn người phụ thuộc thì mức chi phí được trừ cần được tính theo mức trần của từng người tương ứng với số người phụ thuộc, qua đó phản ánh đúng gánh nặng chi tiêu thực tế. Ngược lại, đối với những người nộp thuế còn trẻ, chưa phải nuôi dưỡng ai thì mức áp dụng sẽ thấp hơn.
Khi chính sách phù hợp với thực tế và nhận được sự đồng thuận, người dân sẽ tự giác tuân thủ, thay vì tìm cách né tránh hoặc đối phó.

(Ảnh minh họa)
Tôi cho rằng, cơ quan soạn thảo cần tiếp tục phân tích, bổ sung trên cơ sở các chỉ tiêu kinh tế - xã hội vĩ mô khác, nhằm đưa ra mức phù hợp, hài hòa và nhận được sự đồng thuận cao từ người dân. Cùng với đó, cần thay đổi cách thiết kế chính sách theo hướng linh hoạt hơn. Cụ thể, nên xây dựng một “room” chung cho cả chi phí giáo dục và y tế, thay vì tách riêng như hiện nay. Khi đó, người nộp thuế có thể chủ động phân bổ: có giai đoạn chi nhiều cho giáo dục, giai đoạn khác lại chi nhiều cho y tế, nhưng tổng thể vẫn nằm trong mức trần cho phép.
Đồng thời, “room” này cũng cần được thiết kế theo từng nhóm đối tượng cụ thể: người có nhiều người phụ thuộc sẽ được hưởng mức cao hơn, người có ít hoặc không có người phụ thuộc sẽ áp dụng mức thấp hơn. Như vậy, chính sách sẽ bảo đảm tính công bằng, linh hoạt và sát với thực tiễn.
Nhiều ý kiến băn khoăn về việc lợi dụng chính sách trục lợi, theo ông, cần có giải pháp gì để kiểm soát?
Dù chính sách được thiết kế theo hướng linh hoạt, vẫn cần có các “hàng rào kỹ thuật” để bảo đảm thực thi hiệu quả. Các quy định về hồ sơ, thủ tục cần được xây dựng rõ ràng. Theo đó, Bộ Tài chính cần phối hợp với Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các bộ, ngành liên quan, cũng như hệ thống ngân hàng thương mại, để xây dựng bộ chứng từ phù hợp.
Việc thanh toán không dùng tiền mặt, yêu cầu hóa đơn, chứng từ hợp lệ, cũng như tăng cường cơ chế kiểm soát và chế tài xử lý vi phạm là những yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm tính minh bạch, phản ánh đúng chi phí thực tế phát sinh và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách.











