Bài 3: Nâng chất dòng vốn đến hệ sinh thái tăng trưởng
Vùng Đông Nam Bộ đang đứng trước yêu cầu chuyển mạnh từ khai thác lợi thế riêng lẻ sang tổ chức lại không gian phát triển theo hướng liên kết, tích hợp và hiệu quả hơn.
Trong quá trình đó, cộng đồng doanh nghiệp, cả trong và ngoài nước, không chỉ là lực lượng trực tiếp tạo ra sản phẩm, việc làm và nguồn thu mà còn là nguồn lực quan trọng để đưa những lợi thế về hạ tầng, công nghiệp, logistics, tài chính và thị trường của toàn vùng thành năng lực cạnh tranh thực tế.
Tham gia sâu vào chuỗi giá trị

Khu trung tâm TP. Hồ Chí Minh có đóng góp vai trò quan trọng trong quy hoạch phát triển vùng Đông Nam Bộ. Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN
Tăng trưởng hai con số của Đông Nam Bộ cuối cùng không chỉ được đo bằng những con số GRDP, vốn đầu tư hay số lượng dự án. Thước đo quan trọng hơn là năng lực cạnh tranh thực tế của doanh nghiệp, khả năng kết nối của nền kinh tế và sức mạnh của toàn vùng trong chuỗi giá trị quốc gia, khu vực và toàn cầu.
Ông Mickaël Driol, CEO của Mekong Partners và đồng Chủ tịch Ủy ban Sourcing của Hiệp hội Thương mại và Công nghiệp Pháp tại Việt Nam (CCIFV) cho rằng, có hai động lực mang tính cấu trúc đang làm thay đổi cách đầu tư công nghiệp. Trong đó, phi carbon hóa, giảm phát thải đã trở thành một biến số kinh tế, ảnh hưởng đến mua hàng, tài chính và khả năng tiếp cận thị trường; động lực thứ hai là tái cấu trúc chuỗi cung ứng.
“Tại vùng Đông Nam Bộ nói chung, thành phố Đồng Nai nói riêng nằm đúng giao điểm của hai động lực này, nhờ chiều sâu sản xuất và trục logistics chiến lược”, ông Mickaël Driol nhận định.
Theo ông Mickaël Driol, Việt Nam đang hưởng lợi từ sự tái phân bổ công suất công nghiệp toàn cầu. Làn sóng đầu tư tiếp theo sẽ mang đến những hoạt động có giá trị cao hơn như cụm nhà cung cấp, trung tâm kỹ thuật, tự động hóa và dịch vụ sản xuất tiên tiến. Nhưng để thu hút được dòng vốn này, yêu cầu không chỉ là có đất sạch hay ưu đãi đầu tư mà còn đòi hỏi năng lực thể chế và quản trị phối hợp.
“Tại vùng Đông Nam Bộ, mật độ công nghiệp và vị trí gần các cảng nước sâu của Đồng Nai tạo ra nền tảng tự nhiên cho các hệ sinh thái này. Nhiều doanh nghiệp Pháp đã xem Đồng Nai là một trong số ít địa điểm tại Việt Nam có thể mở rộng mạng lưới nhà cung cấp và đặt nền móng cho sản xuất tiên tiến”, ông Mickaël Driol nhận định.
Vùng Đông Nam Bộ đang có cơ hội đặc biệt để hình thành một hệ sinh thái tăng trưởng như vậy. Nhưng cơ hội chỉ trở thành động lực thực tế khi tư duy phát triển được chuyển từ “địa phương nào làm tốt địa phương đó” sang phối hợp nguồn lực trên quy mô vùng.
Theo ông Trịnh Văn Hải, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tây Ninh, trong tiến trình xây dựng mô hình tăng trưởng mới của vùng Đông Nam Bộ, liên kết vùng không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là động lực để mỗi địa phương phát huy tối đa lợi thế so sánh. Với nguồn lực hiện có về các dự án đầu tư trong và ngoài nước, Tây Ninh có khả năng trở thành những mắt xích kết nối Tây Ninh với các trung tâm công nghiệp, logistics và thị trường lớn của Đông Nam Bộ.

Hoạt động sản xuất tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công nghệ TENFY (Việt Nam) có vốn đầu tư nước ngoài tại Khu công nghiệp TMTC, xã Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Ảnh: Minh Phú - TTXVN
Theo ông Hải, khi kết hợp nội lực của địa phương với hệ thống hạ tầng liên kết ngày càng hoàn thiện cùng TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh trong vùng, Tây Ninh sẽ phát huy tốt vai trò cửa ngõ giao thương, góp phần hình thành mô hình tăng trưởng xanh, hiện đại, nâng cao sức cạnh tranh của toàn vùng.
Theo các số liệu cập nhật mới nhất, các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ hiện có hơn 25.796 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký trên 220 tỷ USD; trong đó, TP. Hồ Chí Minh hiện có 21.310 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 146,8 tỷ USD; tiếp đến là Đồng Nai có 2.296 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký 46,1 tỷ USD; Tây Ninh có hơn 2.190 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký trên 27,5 tỷ USD.
Điểm đáng chú ý, dòng vốn FDI đang đi cùng hạ tầng như sân bay Long Thành, cảng Cần Giờ, Vành đai 4, các tuyến cao tốc, đường sắt và hành lang logistics đang từng bước hình thành một không gian đầu tư liên kết, tạo điều kiện để Đông Nam Bộ chuyển từ “thu hút từng dự án” sang hình thành các chuỗi giá trị và cực tăng trưởng mới.
Đáng chú ý, theo xu hướng phát triển công nghệ cao tại các địa phương trong vùng Đông Nam Bộ, thời gian qua nhiều trung tâm dữ liệu đã được triển khai tại đây. Theo số liệu nửa đầu năm 2026 từ công ty nghiên cứu thị trường Cushman & Wakefield, TP. Hồ Chí Minh đang có 14 trung tâm dữ liệu do 9 công ty vận hành, với tổng công suất 33 megawatt (MW). Các dự án trung tâm dữ liệu mới đang được lên kế hoạch đầu tư tại TP. Hồ Chí Minh có tổng công suất 68 MW, trong đó có những khoản đầu tư rất lớn như thỏa thuận khung trị giá 1 tỷ USD giữa G42, Tập đoàn FPT và Tập đoàn Việt Thái, cũng như dự án trung tâm dữ liệu siêu quy mô AI trị giá 2 tỉ USD.
Tương tự, cuối tháng 8/2026 vừa qua, liên danh gồm Công ty cổ phần Công nghệ - Viễn thông Sài Gòn (SAIGONTEL), Công ty TNHH World Harmony (WVU) và Công ty TNHH Đầu tư SAIF Eagle II đã có thông tin về nghiên cứu phát triển Tổ hợp Trung tâm dữ liệu AI trên diện tích khoảng 20 ha tại Khu công nghiệp Nam Tân Tập (xã Tân Tập, tỉnh Tây Ninh). Dự án có tổng công suất tải tính toán (IT) mục tiêu đạt 200 MW. Trước mắt, liên danh sẽ tập trung nguồn lực triển khai Giai đoạn 1 với quy mô 100 MW, với tổng vốn đầu tư 3,5 tỷ USD hướng tới mục tiêu khởi công vào quý IV/2026 và phấn đấu đưa vào vận hành thương mại trong năm 2027.
“Dự án triển khai có thể bổ sung năng lực hạ tầng số quy mô lớn, đồng thời tạo thêm điều kiện để địa phương thu hút các doanh nghiệp công nghệ và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Về lâu dài, việc hình thành hạ tầng dữ liệu quy mô lớn có thể hỗ trợ phát triển các hoạt động liên quan đến AI, điện toán đám mây và công nghệ cao tại địa phương cũng như toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”, đại diện chủ đầu tư cho biết.
Định hình hệ sinh thái tăng trưởng

Hoạt động sản xuất tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Công nghệ TENFY (Việt Nam) có vốn đầu tư nước ngoài tại Khu công nghiệp TMTC, xã Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh. Ảnh: Minh Phú - TTXVN
Khi dòng vốn, sản xuất, logistics và thị trường được đặt trong cùng một không gian kinh tế, doanh nghiệp có thể tiếp cận tốt hơn cả vốn lẫn thị trường, trong khi các địa phương có thể khai thác hiệu quả hơn lợi thế bổ trợ lẫn nhau.
Dòng vốn FDI “đổ về” vùng Đông Nam Bộ đang có xu hướng chuyển dịch theo hướng chất lượng hơn, tập trung vào chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, điện tử, công nghệ cao, logistics và sản xuất xanh. Theo các chuyên gia kinh tế, điều quan trọng là nguồn vốn phải được đặt trong một hệ sinh thái phát triển đủ sức hấp thụ. Một địa phương có thể thu hút một dự án lớn, nhưng nếu thiếu nhà cung cấp, thiếu logistics, thiếu lao động kỹ năng cao hoặc thủ tục còn chậm, giá trị lan tỏa sẽ bị hạn chế. Ngược lại, khi các địa phương cùng hình thành chuỗi liên kết, một dự án đầu tư có thể tạo ra tác động vượt khỏi ranh giới hành chính.
Kiến trúc sư Nguyễn Đình Hòa, Viện Kinh tế và Quản lý TP. Hồ Chí Minh, cho rằng: Sự “sáp nhập” trong tư duy quy hoạch vùng này đã nâng tầm toàn bộ vị thế logistics của Đông Nam Bộ. Bài học từ Cái Mép-Thị Vải cho thấy giá trị của liên kết vùng không nằm ở việc các địa phương cùng tham gia một dự án, mà ở khả năng nhìn thấy một nhu cầu phát triển vượt qua địa giới hành chính và cùng tổ chức nguồn lực để đáp ứng nhu cầu đó. Chính cách tiếp cận này tạo ra những hạ tầng có quy mô đủ lớn, phục vụ không chỉ một địa phương mà cả một vùng kinh tế.
Về dẫn dòng nguồn vốn, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng: TP. Hồ Chí Minh sẽ là một điểm đến rất hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và các định chế tài chính quốc tế trong thời gian tới. Bởi lẽ, chúng ta không chỉ có những cơ chế, chính sách đặc thù dành cho Trung tâm Tài chính Quốc tế mà còn đang nỗ lực xây dựng các mô hình hoạt động và hệ sinh thái tài chính tương đối hoàn chỉnh. Qua đó, tạo điều kiện để các định chế tài chính mở rộng hoạt động và tìm kiếm cơ hội tăng trưởng khi tham gia vào Trung tâm Tài chính quốc tế Việt Nam (VIFC).
Bên cạnh vai trò thu hút dòng vốn quốc tế, theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Hữu Huân, Trung tâm Tài chính Quốc tế còn hướng tới thu hút các dòng vốn cho đổi mới sáng tạo cũng như nguồn nhân lực chất lượng cao trong khu vực. Đây sẽ là những nguồn lực quan trọng để tạo ra các giá trị mới cho nền kinh tế, đồng thời giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Ở cấp độ vùng, sự kết nối giữa các nguồn lực càng trở nên quan trọng. Khi dòng vốn, sản xuất, logistics và thị trường được đặt trong cùng một không gian kinh tế, doanh nghiệp có thể tiếp cận tốt hơn cả vốn lẫn thị trường, trong khi các địa phương có thể khai thác hiệu quả hơn lợi thế bổ trợ lẫn nhau.

Hạ tầng cảng biển của TP. Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu liên kết vùng của vùng Đông Nam Bộ. Ảnh: Hồng Đạt - TTXVN
Có thể nói, chìa khóa để doanh nghiệp thực sự trở thành động lực tăng trưởng không chỉ nằm ở việc tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh tại từng địa phương. Quan trọng hơn là phải tạo được một không gian kinh tế đủ lớn; trong đó, doanh nghiệp có thể di chuyển hàng hóa thuận lợi hơn, tiếp cận nguồn vốn tốt hơn, tuyển dụng nhân lực chất lượng cao hơn và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Để thực thi hiệu quả Nghị quyết số 27-NQ/TW, Nghị quyết 09-NQ/TW cũng như Luật Phát triển đô thị, ông Hoàng Vũ Thảnh, Giám đốc Sở Tài chính TP. Hồ Chí Minh, cho biết Sở Tài chính thành phố đề xuất áp dụng các cơ chế tài chính – đầu tư đột phá, trong đó xây dựng cơ chế “Cùng góp vốn” đầu tư công trình liên vùng, cụ thể hóa nguyên tắc “cùng quyết định, cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm, cùng hưởng lợi” để các địa phương phối hợp ngân sách đầu tư các công trình giao thông, hạ tầng kỹ thuật giáp ranh hoặc liên tỉnh. Đối với cơ chế huy động vốn ngoài ngân sách, đẩy mạnh các mô hình hợp tác công – tư (PPP); áp dụng công cụ thu hồi giá trị gia tăng từ đất dọc các trục Vành đai 3, Vành đai 4 và các tuyến metro để tạo nguồn vốn tái đầu tư hạ tầng (TOD); phát hành trái phiếu chính quyền địa phương phục vụ đầu tư phát triển.
Về cơ chế tài chính, để phát huy vai trò Trung tâm Tài chính Quốc tế TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC), Sở Tài chính TP. Hồ Chí Minh đề xuất: Đẩy mạnh phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu xanh; thu hút các quỹ đầu tư quốc tế và tập đoàn đa quốc gia tham gia vào hạ tầng chuyển đổi xanh và hạ tầng số; đồng thời xây dựng cơ chế tài chính xanh, thương mại hóa tín chỉ carbon và thành lập Quỹ đầu tư phát triển liên vùng nhằm huy động nguồn tài chính ngoài ngân sách, điều phối kinh phí tái đầu tư trực tiếp cho các công trình ứng phó biến đổi khí hậu, chống ngập, nâng cấp đê biển và bảo đảm sinh kế bền vững toàn vùng.
Nguồn Bnews: https://bnews.vn/bai-3-nang-chat-dong-von-den-he-sinh-thai-tang-truong/437603.html



