Nợ xấu 'chưa nói hết' câu chuyện tài sản ngân hàng

Chất lượng tài sản ngân hàng đang được giới đầu tư quan tâm. Tuy nhiên, để đánh giá nó cần được nhìn từ nhiều chỉ dấu.

Cùng một tỷ lệ nợ xấu, chất lượng tài sản có thể khác nhau

Mỗi mùa công bố báo cáo tài chính, nợ xấu (NPL) ngân hàng lại trở thành một trong những chỉ tiêu được thị trường quan tâm. Tỷ lệ nợ xấu thường được đặt cạnh nhau để nhận diện mức độ rủi ro tín dụng giữa các nhà băng. Tuy nhiên, chỉ nhìn vào một tỷ lệ NPL chưa đủ để phản ánh toàn diện chất lượng tài sản.

Theo cách tiếp cận thông thường, tỷ lệ NPL được tính bằng tổng dư nợ cho vay khách hàng thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn), chia cho tổng dư nợ cho vay khách hàng trước dự phòng. Tuy nhiên, ngay trong cùng một tỷ lệ, cơ cấu nợ cũng tạo ra sự khác biệt về mức độ rủi ro.

Một ngân hàng có phần lớn nợ xấu nằm ở nhóm 3 sẽ có đặc điểm khác với ngân hàng tập trung nhiều nợ nhóm 5. Vì vậy, tỷ lệ NPL cần được đặt trong mối tương quan với cơ cấu các nhóm nợ thay vì được xem như một chỉ báo độc lập.

Không chỉ vậy, rủi ro tín dụng của ngân hàng còn phát sinh từ nhiều nghiệp vụ ngoài khoản mục cho vay khách hàng. Thông tư 31/2024/TT-NHNN (Thông tư 31) quy định phạm vi phân loại rộng hơn, bao gồm cho thuê tài chính; chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá; bao thanh toán; dư nợ thẻ tín dụng; các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng; trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết; ủy thác cấp tín dụng; một số khoản tiền gửi tại tổ chức tín dụng khác; mua, bán nợ; mua chứng chỉ tiền gửi và một số nghiệp vụ thư tín dụng.

Việc mở rộng phạm vi giúp tỷ lệ NPL bao quát hơn những tài sản có phát sinh rủi ro tín dụng. Do đó, cùng một ngân hàng, cùng một kỳ báo cáo, mức NPL cũng có thể khác nhau nếu phạm vi và phương pháp tính không giống nhau.

Bên cạnh đó, cần phân biệt tỷ lệ nợ xấu ở cấp độ riêng lẻ và hợp nhất. Tỷ lệ riêng lẻ phản ánh hoạt động của ngân hàng mẹ, trong khi tỷ lệ hợp nhất bao gồm các công ty con thuộc diện hợp nhất. Với những ngân hàng có hệ sinh thái gồm tài chính tiêu dùng, chứng khoán, cho thuê tài chính hay các lĩnh vực liên quan, chất lượng tài sản của từng danh mục có thể mang đặc điểm khác nhau. Như vậy, ngay cả khi đã thống nhất cách tính và phạm vi, việc đánh giá chất lượng tài sản vẫn cần đặt trong đặc thù mô hình kinh doanh và cơ cấu danh mục của từng ngân hàng.

Từ góc nhìn này, diễn biến tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) cho thấy một trường hợp cần nhìn đồng thời nhiều chỉ dấu. Kết thúc nửa đầu năm 2026, tỷ lệ nợ xấu riêng lẻ theo Thông tư 31 của VPBank được duy trì quanh 2%, thấp hơn mục tiêu 2,5%, trong khi NPL hợp nhất dưới 3%.

Tỷ lệ nợ xấu và nợ nhóm 2 của VPBank không ngừng cải thiện, xuống mức thấp nhất trong nhiều năm.

Tỷ lệ nợ xấu và nợ nhóm 2 của VPBank không ngừng cải thiện, xuống mức thấp nhất trong nhiều năm.

Trong báo cáo cập nhật kết quả kinh doanh quý II, Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) ghi nhận xu hướng cải thiện chất lượng tài sản của VPBank, khi tỷ lệ nợ xấu và nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý) giảm về mức thấp trong nhiều năm.

VPBank đã mở rộng hệ sinh thái sang các lĩnh vực như chứng khoán, bảo hiểm, giảm phụ thuộc vào chu kỳ tín dụng; đồng thời khai thác đa dạng phân khúc khách hàng, qua đó phân tán rủi ro. Ngân hàng cũng tăng cường năng lực quản trị rủi ro, đầu tư vào dữ liệu và công nghệ nhằm nâng cao chất lượng thẩm định, chủ động nhận diện rủi ro và cải thiện hiệu quả thu hồi.

Nợ nhóm 2, dự phòng và khả năng xử lý là những chỉ dấu quan trọng

Nếu tỷ lệ NPL là phần nổi dễ quan sát, những chỉ dấu phía sau mới cho thấy rõ hơn sức ép đối với chất lượng tài sản và khả năng xử lý rủi ro của ngân hàng. Báo cáo “Chất lượng tài sản ngành Ngân hàng” của Công ty Cổ phần Chứng khoán Kỹ Thương (TCBS Research) cho thấy, bức tranh tín dụng đang có sự phân hóa. Đến cuối quý II/2026, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành ở mức 2,01%. Tuy nhiên, mức tăng này chủ yếu đến từ trường hợp Sacombank.

Theo TCBS Research, Sacombank đóng góp 77,7% mức tăng số dư nợ xấu toàn ngành. Tỷ lệ NPL của ngân hàng tăng 5,08 điểm phần trăm, lên 7,54%, trong đó nợ nhóm 5 tăng từ 1,77% lên 5,07% tổng dư nợ. Diễn biến tại Sacombank được đánh giá chủ yếu liên quan đến quá trình xử lý các khoản tồn đọng trong đề án tái cơ cấu và tài sản liên quan đến nhóm cổ đông cũ, thay vì hoàn toàn phản ánh sự gia tăng nợ xấu mới từ hoạt động tín dụng thông thường.

Khi loại Sacombank khỏi thống kê, tỷ lệ nợ xấu bình quân của 26 ngân hàng còn lại giảm từ 2,02% xuống 1,78%. Số dư nợ xấu của 26 ngân hàng này chỉ tăng 3,8% so với cùng kỳ và có 20/27 ngân hàng ghi nhận tỷ lệ nợ xấu cải thiện hoặc duy trì ở mức thấp.

Những con số này cho thấy, áp lực nợ xấu chưa diễn ra đồng loạt trong toàn hệ thống. Tuy nhiên, các chỉ báo sớm lại đặt ra yêu cầu tiếp tục theo dõi chất lượng tín dụng trong thời gian tới.

Đáng chú ý là nợ nhóm 2. Tỷ lệ nợ cần chú ý đã tăng lên 1,38% dư nợ, tăng quý thứ hai liên tiếp, so với mức đáy 1,17% vào cuối năm 2025. Chỉ tiêu này tăng tại 15/27 ngân hàng niêm yết.

Các chuyên gia của TCBS Research cho hay, nợ nhóm 2 thường được xem là chỉ báo sớm về khả năng hình thành nợ xấu trong tương lai. Vì vậy, diễn biến tăng của nhóm nợ này có thể tạo thêm áp lực lên chi phí tín dụng nếu khả năng trả nợ của khách hàng tiếp tục suy yếu.

Trong khi đó, bộ đệm dự phòng cũng là một yếu tố cần được nhìn song song với NPL. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) toàn ngành giảm xuống 78,8%, thấp hơn mức 79,8% cùng kỳ. Theo TCBS Research, nguyên nhân là tốc độ tăng trích lập dự phòng 14,7% thấp hơn mức tăng 16,1% của nợ xấu.

Trong 6 tháng đầu năm, lượng nợ xấu hình thành ròng đạt 104,3 nghìn tỷ đồng, cao gấp 1,8 lần lượng nợ được xử lý bằng dự phòng, ở mức 57,6 nghìn tỷ đồng. Điều này cho thấy chất lượng tài sản không chỉ nằm ở số nợ xấu đang hiện hữu mà còn nằm ở tốc độ hình thành nợ mới, mức độ tạo lập bộ đệm dự phòng và khả năng xử lý các khoản nợ tồn đọng. Dự phòng tạo ra bộ đệm để ngân hàng chống chịu trước áp lực nợ xấu, nhưng đồng thời cũng tạo ra chi phí, tác động đến lợi nhuận trong kỳ.

Chất lượng tài sản, vì thế, không chỉ nằm ở việc “nợ xấu đang bao nhiêu”, mà còn ở câu hỏi những khoản nợ ấy đang được nhận diện, dự phòng và xử lý như thế nào. Đây cũng là cơ sở để nhìn rõ hơn xu hướng tín dụng và sức ép rủi ro của từng ngân hàng trong những kỳ tiếp theo.

Một điều đáng chú ý, ở góc độ chính sách, việc xử lý nợ xấu cũng đang được bổ sung hành lang pháp lý. Ngày 17/9/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 359/2026/NĐ-CP (Nghị định 359) về thành lập, tổ chức, hoạt động và cơ chế tài chính của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), thay thế Nghị định 53/2013/NĐ-CP và các nghị định sửa đổi, bổ sung sau đó. Nghị định có hiệu lực từ ngày 6/11/2026.

Theo quy định mới, VAMC được duy trì với vai trò xử lý nợ xấu, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế; hoạt động theo nguyên tắc lấy thu bù chi, không vì mục tiêu lợi nhuận, công khai, minh bạch, hạn chế rủi ro và chi phí trong xử lý nợ xấu.

VAMC được mua nợ xấu theo giá trị thị trường hoặc bằng trái phiếu đặc biệt; đồng thời được chuyển khoản nợ đã mua bằng trái phiếu đặc biệt thành khoản nợ mua theo giá trị thị trường. Nghị định cũng mở rộng đối tượng VAMC được mua nợ xấu theo giá trị thị trường và hoàn thiện cơ chế hỗ trợ tổ chức tín dụng trong thu hồi, xử lý nợ và tài sản bảo đảm.

Lãnh đạo VAMC cho biết, Nghị định 359 không phải căn cứ để thành lập một doanh nghiệp mới mà là văn bản pháp lý kế thừa, cập nhật và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với VAMC đã hoạt động từ năm 2013.

Theo thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết, tổng số dư nợ xấu (nợ nhóm 3-5) tính đến ngày 30/6/2026 đạt hơn 310.000 tỷ đồng, tăng gần 48.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 18% so với cuối năm 2025.

Ngân Thương

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/no-xau-chua-noi-het-cau-chuyen-tai-san-ngan-hang-473914.html