Bài 3: Video AI và những 'vùng xám' pháp lý
AI đang mở ra nhiều cách làm video mới, nhưng cũng kéo theo những câu hỏi không dễ trả lời về bản quyền, quyền hình ảnh, dữ liệu cá nhân và trách nhiệm pháp lý. Khi thật giả có thể được tạo ra chỉ bằng vài thao tác, ranh giới giữa sáng tạo và xâm phạm quyền của người khác cũng cần được xác định rõ hơn.
Bài 3: Video AI và những “vùng xám” pháp lý
Thực tế cho thấy công nghệ AI đang mở ra thêm nhiều cách làm video, giúp người sáng tạo dễ dàng thử sức với những ý tưởng trước đây không dễ thực hiện. Nhưng cùng với đó là những câu hỏi về bản quyền, quyền hình ảnh, dữ liệu cá nhân và trách nhiệm khi nội dung gây ảnh hưởng đến người khác. Khi một đoạn video giả có thể giống thật đến mức khó nhận ra, những giới hạn về việc được làm gì và phải chịu trách nhiệm đến đâu cũng cần được nhìn lại.
Khi công nghệ đi nhanh hơn thói quen
Để làm một cảnh quay đẹp, dựng một bối cảnh không có thật hay tạo ra một nhân vật theo đúng hình dung của đạo diễn, trước đây các nhà làm phim phải tính đến khá nhiều thứ, từ tiền thuê thiết bị, diễn viên, bối cảnh, kỹ xảo, nhân lực... Cũng bởi thế mà đôi khi ý tưởng phải nằm lại trên giấy vì không đủ điều kiện thực hiện.
Sự ra đời và phát triển với tốc độ chóng mặt của công nghệ AI hiện nay đang làm nhẹ đi rất nhiều phần việc ấy. Với một chiếc máy tính và những công cụ phù hợp, người làm phim có thể tự thực hiện nhiều công đoạn mà trước đây cần cả một êkíp. Người có ý tưởng nhưng ít tiền, ít thiết bị vì thế cũng có thêm cơ hội kể câu chuyện của mình bằng hình ảnh.

Anh Đỗ Nhật Phong, Giám đốc điều hành Công ty Cổ phần Công nghệ Zofinity, Hà Nội
Anh Đỗ Nhật Phong, Giám đốc điều hành Công ty Cổ phần Công nghệ Zofinity, Hà Nội nhìn nhận đây là thay đổi đáng kể với những người làm phim độc lập. Khi công nghệ giúp giảm bớt những rào cản về kinh phí, thiết bị và bối cảnh, điều giữ một bộ phim lại với khán giả sẽ nằm nhiều hơn ở câu chuyện và cách người làm phim nhìn thế giới. Nhưng AI cũng chưa thể làm thay người làm phim ở những chỗ khó nhìn thấy bằng máy móc. Nhân vật có thể thay đổi nét mặt giữa hai cảnh, ánh sáng có lúc không còn thống nhất, cảm xúc đôi khi bị đẩy quá tay. Một ánh mắt, một khoảng lặng hay một góc máy tưởng rất nhỏ nhưng lại có thể làm nên thần thái của cả cảnh phim.
Cũng theo anh Đỗ Nhật Phong, khi những phần việc kỹ thuật được công nghệ hỗ trợ, người làm phim càng phải hiểu mình muốn kể câu chuyện gì và kể nó bằng cảm xúc nào. Đó là thứ AI chưa thể tự có, bởi máy móc không có trải nghiệm sống để hiểu nỗi đau của một nhân vật hay vì sao một ánh mắt cần được giữ lại lâu hơn vài giây.
Và rồi chính công nghệ ấy lại đưa người làm phim đến những câu hỏi khác. Đó là nếu AI có thể tạo ra khuôn mặt của một người chưa từng đứng trước máy quay, thì sẽ ra sao nếu đó là khuôn mặt của một người thật; nếu có thể bắt chước giọng nói, liệu có thể dùng giọng nói ấy để nói những điều người đó chưa bao giờ nói; nếu một sự kiện chưa từng xảy ra được dựng lại giống hệt một đoạn video thời sự, người xem sẽ dựa vào đâu để biết đâu là thật.
Với Đỗ Nhật Phong, câu trả lời nằm ở sự đồng thuận, không thể vì công nghệ cho phép tạo ra một gương mặt hay giọng nói mà mặc nhiên cho rằng mình có quyền sử dụng chúng và cũng không nên biến một sản phẩm hư cấu thành tư liệu về một con người hay sự kiện có thật. Từ đây, câu chuyện của AI bắt đầu "chạm" vào pháp luật.
Không thể đổ mọi chuyện cho AI
Một video AI nhìn trên màn hình có thể chỉ dài vài phút, nhưng phía sau nó có thể là rất nhiều lớp vấn đề như: hình ảnh lấy từ đâu, giọng nói của ai, nhạc được sử dụng thế nào, dữ liệu đưa vào công cụ có quyền sử dụng hay không, nếu video làm ảnh hưởng đến một người thật, ai sẽ đứng ra chịu trách nhiệm...Về vấn đề này, luật sư Hoàng Ngọc Quý, Công ty Luật TNHH Quốc tế Nguyễn và Cộng sự cho rằng đây là lý do không thể chỉ nhìn vào việc một sản phẩm có sử dụng AI hay không để kết luận nó đúng hay sai. Cùng là AI, nhưng cách sử dụng khác nhau có thể dẫn tới những câu chuyện pháp lý rất khác.

Luật sư Hoàng Ngọc Quý, Công ty Luật TNHH Quốc tế Nguyễn và Cộng sự
Chẳng hạn, dùng AI để dựng một bối cảnh trong phim giả tưởng là chuyện khác với việc lấy khuôn mặt của một người thật rồi ghép vào một cảnh khiến khán giả tin rằng người đó đã làm một việc chưa từng xảy ra. Khi ấy, quyền hình ảnh, danh dự, nhân phẩm, uy tín và dữ liệu cá nhân đều có thể bị đặt vào tình thế bị xâm phạm.
Bản quyền cũng không phải chuyện có thể bỏ qua chỉ vì sản phẩm được tạo bằng AI. Một ca khúc, bức ảnh, đoạn phim hay kịch bản đã có chủ sở hữu không tự nhiên trở thành “nguyên liệu miễn phí” để đưa vào công cụ. Việc ghi nguồn hay ghi “sản phẩm tạo bởi AI” cũng không thay thế cho sự đồng ý của chủ thể quyền nếu trường hợp đó pháp luật yêu cầu phải xin phép.
Nghị định 134/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 17/2023/NĐ-CP về quyền tác giả, quyền liên quan đã đưa thêm quy định đối với tác phẩm có sử dụng AI. Trong đó, pháp luật nhìn vào phần đóng góp của con người trong quá trình sáng tạo, yêu cầu sự đóng góp phải đáng kể và mang tính quyết định; người tạo ra sản phẩm cũng phải chịu trách nhiệm về nội dung và tính hợp pháp của sản phẩm.

AI đang mở rộng khả năng sáng tạo video nhưng đồng thời cũng đặt ra những câu hỏi về bản quyền, quyền hình ảnh, dữ liệu cá nhân và trách nhiệm pháp lý
Điều đáng chú ý là câu chuyện không bắt đầu từ lúc video được đăng lên mạng. Nó có thể bắt đầu sớm hơn, ngay từ dữ liệu được đưa vào công cụ AI. Nếu dữ liệu, hình ảnh, âm thanh hay tác phẩm của người khác được sử dụng mà không có căn cứ hợp pháp, vấn đề về quyền đã xuất hiện ngay từ đầu. Nghị định 134/2026/NĐ-CP cũng đã bổ sung quy định liên quan đến việc sử dụng văn bản, dữ liệu được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan cho hoạt động AI. Đến lúc video hoàn thành, việc xác định trách nhiệm lại có thêm một lớp khó. Người cung cấp dữ liệu có thể không phải người tạo video. Người viết câu lệnh có thể không phải người đăng tải. Người chỉnh sửa sản phẩm cũng có thể không phải người quyết định đưa nó ra công chúng.
Theo luật sư Hoàng Ngọc Quý, vì thế cần nhìn vào cả quá trình thay vì chỉ nhìn vào sản phẩm cuối cùng. Ai đưa dữ liệu vào, ai lựa chọn kết quả, ai chỉnh sửa, ai quyết định phát hành, sản phẩm được dùng để làm gì và cuối cùng ai bị thiệt hại. Tất cả đều có thể liên quan đến việc xác định trách nhiệm.
“Không thể mặc nhiên quy trách nhiệm cho công cụ AI, nhưng cũng không thể coi người sử dụng AI là đứng ngoài trách nhiệm." - luật sư Hoàng Ngọc Quý cho biết.
Đó cũng là lý do việc lưu lại quá trình làm việc với AI có thể trở nên quan trọng khi phát sinh tranh chấp. Dữ liệu đầu vào, câu lệnh, bản thảo, các lần chỉnh sửa hay phiên bản trung gian có thể giúp làm rõ con người đã tham gia vào đâu và quyết định những gì trong sản phẩm cuối cùng.
Để người xem không bị bỏ lại giữa thật và giả
Nếu bản quyền và quyền hình ảnh liên quan đến người đứng phía sau video, thì việc nhận biết thật giả lại liên quan trực tiếp đến người xem. Một đoạn video được tạo bằng AI có thể rất thuyết phục. Nếu người xem không biết nó là sản phẩm hư cấu, họ có thể tin một phát ngôn chưa từng được nói, một sự kiện chưa từng xảy ra hoặc một hình ảnh chưa bao giờ tồn tại là thật.
Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026 đã đặt ra yêu cầu minh bạch với nội dung do AI tạo ra. Nội dung âm thanh, hình ảnh, video do AI tạo ra phải được đánh dấu ở định dạng máy đọc; với những nội dung có khả năng khiến công chúng nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật, pháp luật cũng đặt ra yêu cầu thông báo, gắn nhãn để người xem nhận biết.
Điều này đặc biệt đáng chú ý với những sản phẩm mô phỏng khuôn mặt, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện có thật. Người xem cần biết mình đang nhìn vào một hình ảnh được tạo ra hay một tư liệu thực tế. Nhưng gắn nhãn AI cũng chỉ là một phần của câu chuyện. Một video nói rõ “được tạo bằng AI” vẫn có thể sử dụng trái phép hình ảnh của người khác, lấy một ca khúc không được phép sử dụng hoặc dựng nội dung làm tổn hại đến danh dự của một người. Biết đó là AI không có nghĩa người tạo ra nó được quyền làm mọi thứ.
Nói về điều này, anh Đỗ Nhật Phong, Giám đốc điều hành Công ty Cổ phần Công nghệ Zofinity tiếp tục nhấn mạnh quan điểm về sự đồng thuận. Cụ thể, công nghệ có thể mở ra nhiều cách kể chuyện, nhưng người sáng tạo vẫn phải biết đâu là giới hạn khi câu chuyện của mình chạm đến một con người thật.
Không thể lấy một chiếc thước đo cho mọi AI

Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật, Đoàn Luật sư TP.HCM
Nhìn rộng hơn, câu chuyện không chỉ là xử lý những sản phẩm đã gây ra hậu quả. Luật sư Diệp Năng Bình, Trưởng Văn phòng Luật sư Tinh Thông Luật, Đoàn Luật sư TP.HCM cho rằng Việt Nam vẫn cần tiếp tục hoàn thiện quy định về dữ liệu, bản quyền và trách nhiệm của các bên tham gia vào quá trình phát triển, cung cấp và sử dụng AI.
Một trong những việc cần làm rõ là dữ liệu được dùng để huấn luyện AI. Theo luật sư Diệp Năng Bình, nguồn dữ liệu và tác phẩm được sử dụng phải có căn cứ hợp pháp. Ngay cả hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm hay huấn luyện không nhằm mục đích thương mại cũng cần được đặt trong giới hạn phù hợp, tránh gây thiệt hại bất hợp lý cho người có quyền hoặc làm ảnh hưởng đến thị trường của tác phẩm gốc.
Cùng với đó, quyền của người có dữ liệu cũng cần được tính đến ngay từ đầu. Họ cần biết dữ liệu của mình được thu thập để làm gì, sử dụng trong phạm vi nào và có cách phản ánh khi quyền lợi bị ảnh hưởng. Cùng lúc, pháp luật phải chỉ ra trách nhiệm của từng bên trong quá trình từ phát triển công nghệ đến đưa sản phẩm ra sử dụng.
Luật sư Diệp Năng Bình nhấn mạnh, không thể lấy một cách quản lý áp cho tất cả các hệ thống AI. Công cụ giúp dựng một bối cảnh giả tưởng không thể được nhìn giống với công cụ được dùng để giả giọng một người thật rồi tạo ra phát ngôn có thể ảnh hưởng đến danh dự của họ.Theo ông, những hệ thống có khả năng tác động lớn đến quyền con người cần được kiểm soát chặt hơn, trong khi nghiên cứu và thử nghiệm với mức rủi ro thấp vẫn cần khoảng trống để phát triển.
Cách nhìn ấy cũng có thể áp dụng khi nói về việc gắn nhãn. Video mô phỏng người thật, giọng nói thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế theo cách dễ khiến người xem hiểu nhầm cần được nhận diện rõ. Trong khi đó, AI chỉ hỗ trợ một phần kỹ thuật, chẳng hạn nâng chất lượng hình ảnh mà không làm thay đổi nội dung, lại là trường hợp khác. Dù sử dụng AI theo cách nào, quyền của người khác vẫn phải được tôn trọng.

Sự phát triển nhanh chóng của phim do AI đặt ra không ít thách thức về bản quyền, quyền hình ảnh, giọng nói, đạo đức và nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch
Khi một video gây thiệt hại, người tạo, chỉnh sửa hoặc đăng tải nội dung giả nhằm lừa đảo, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm hay xâm phạm quyền hình ảnh có thể phải gỡ bỏ, cải chính, xin lỗi, bồi thường và, tùy trường hợp, chịu các chế tài khác theo pháp luật. Với nhà cung cấp công cụ, người triển khai hay nơi đăng tải, trách nhiệm cũng không thể được mặc định giống nhau mà phải xem họ có nghĩa vụ gì và đã kiểm soát phần việc thuộc về mình đến đâu.
Sau cùng, vấn đề không nằm ở việc AI có thể tạo ra hình ảnh giống thật đến đâu. Điều đáng nói hơn là con người sử dụng khả năng ấy để làm gì, với dữ liệu của ai và khi quyền của người khác bị chạm tới thì ai sẽ đứng ra chịu trách nhiệm. Không thể phủ nhận AI đang mở thêm một cánh cửa cho những nhà sáng tạo nội dung, những người yêu thích công việc làm phim. Nhưng bước qua cánh cửa ấy đến đâu vẫn cần những giới hạn đủ rõ và chế tài đủ sức răn đe, để tự do sáng tạo không trở thành cái cớ cho những xâm phạm quyền của người khác. Đó cũng là điều cần thiết để công nghệ có chỗ cho sáng tạo, còn người xem được bảo vệ trước những mặt trái và cả sự độc hại mà công nghệ có thể đưa lại.
Nguồn ANTĐ: https://anninhthudo.vn/bai-3-video-ai-va-nhung-vung-xam-phap-ly-post670853.antd

