Liên kết nghiên cứu khoa học công nghệ
Liên kết nghiên cứu khoa học công nghệ (KHCN) giữa các nhà trường và địa phương đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH). Không chỉ đưa các tri thức, giải pháp sáng tạo từ nhà trường vào thực tiễn, giúp kịp thời giải các “bài toán” về KHCN, đổi mới sáng tạo (ĐMST) và chuyển đổi số, mối liên kết bền chặt còn góp phần đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu của thực tiễn. Tỉnh Quảng Trị hiện đang nỗ lực tăng cường hơn nữa sự liên kết này và quan trọng hơn là phải mang lại hiệu quả thực chất, bằng những con số sát thực, qua đó, kiến tạo một hệ sinh thái ĐMST đúng nghĩa.
Tại một hội nghị do Sở KHCN đồng tổ chức mới đây, PGS.TS Võ Thanh Tùng, Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học, Đại học Huế chia sẻ, thời gian qua, nhà trường đã có nhiều hoạt động phối hợp với tỉnh Quảng Trị thông qua tư vấn chuyên môn, hỗ trợ đào tạo nhân lực, tham gia hội thảo khoa học và phối hợp triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu.
Từ năm 2021 đến nay, hợp tác nghiên cứu thể hiện xu hướng hiện đại hóa thông qua các đề tài ứng dụng GIS, AI, công nghệ sinh học và mô hình dự báo, hướng tới giải quyết trực tiếp các “bài toán” quản trị phát triển địa phương.
Mặc dù đã đạt được một số kết quả bước đầu, nhìn tổng thể, các hoạt động hợp tác vẫn còn mang tính dự án đơn lẻ, chưa hình thành cơ chế liên kết dài hạn và ổn định. Chuỗi liên kết từ đặt hàng nhiệm vụ đến dữ liệu, thí điểm, chuyển giao và vận hành vẫn còn gặp một số "nút thắt".
PGS.TS Võ Thanh Tùng cũng chỉ rõ các “nút thắt” này. Đó là về đặt hàng do “bài toán” ưu tiên chưa rõ, chuẩn đầu ra thiếu cụ thể; về dữ liệu bởi phân tán, thiếu chuẩn hóa và thiếu cơ chế chia sẻ; về tài chính khi thiếu nguồn lực cho giai đoạn thí điểm và nhân rộng. Ngoài ra, còn có “điểm nghẽn” ở chuyển giao hình thức, thiếu vận hành và duy trì; cũng như thiếu đầu mối liên kết ổn định và liên tục.

Sở Khoa học và Công nghệ luôn theo sát, đốc thúc triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ - Ảnh: Sở KHCN
Cũng tại hội nghị này, thạc sĩ Trần Vĩnh Thắng, Trưởng phòng Đào tạo và Hợp tác quốc tế, Trường cao đẳng kỹ thuật Quảng Trị thẳng thắn nhìn nhận thực tiễn: Mặc dù nhà trường đã từng bước quan tâm triển khai hoạt động nghiên cứu KHCN và bước đầu đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên, xét trên tổng thể và dưới yêu cầu đổi mới hiện nay, hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà trường vẫn còn hạn chế, cần được nhìn nhận một cách khách quan và toàn diện.
Trước hết, quy mô và chất lượng nghiên cứu chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển. Số lượng đề tài còn đang hạn chế, chủ yếu tập trung ở cấp cơ sở; các đề tài có tính ứng dụng rộng hoặc khả năng chuyển giao vẫn còn ít.
Bên cạnh đó, cơ chế khuyến khích và điều kiện bảo đảm cho hoạt động nghiên cứu chưa đáp ứng yêu cầu. Chính sách hỗ trợ đối với giảng viên tham gia nghiên cứu còn chưa đủ mạnh để tạo động lực hoặc lan tỏa tinh thần tham gia; nguồn lực tài chính dành cho nghiên cứu vẫn còn hạn chế; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu chưa được đầu tư đồng bộ. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo trong nghiên cứu mới ở giai đoạn khởi đầu, chưa thực sự được áp dụng rộng rãi và có hệ thống.
Hệ sinh thái ĐMST trong nhà trường chưa được hình thành rõ nét. Mối liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp chưa đồng bộ hoàn toàn; chưa thiết lập được chuỗi liên kết từ nghiên cứu-thử nghiệm-ứng dụng-chuyển giao. Điều này làm hạn chế khả năng thương mại hóa và lan tỏa kết quả nghiên cứu.
Còn tại Trường đại học Quảng Bình, giai đoạn 2021-2025, nhà trường đã xây dựng được một nền tảng tương đối vững chắc cho hoạt động KHCN, thể hiện qua sự duy trì đồng thời 3 trụ cột chính: Nghiên cứu của giảng viên, nghiên cứu của sinh viên và công bố khoa học. Đây là tiền đề quan trọng để nhà trường chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng nghiên cứu và gia tăng đóng góp thực chất cho phát triển KT-XH của tỉnh thời gian tới.
Nhưng trên thực tế, mức độ gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu với khu vực doanh nghiệp và các tổ chức ứng dụng còn chưa rõ nét. Các chỉ số hiện có cho thấy phần lớn hoạt động nghiên cứu vẫn diễn ra trong phạm vi nội bộ nhà trường hoặc trong môi trường học thuật truyền thống, trong khi các hình thức hợp tác nghiên cứu theo đặt hàng, chuyển giao công nghệ hoặc đồng phát triển sản phẩm với doanh nghiệp chưa được phản ánh tương xứng.
Để tháo gỡ các “điểm nghẽn” trong liên kết giữa nhà trường và địa phương, theo PGS.TS Võ Thanh Tùng, trước hết, cần đổi mới cơ chế đặt hàng: Đặt hàng theo chuỗi sản phẩm và KPI phát triển. Quảng Trị cần chuyển mạnh từ cơ chế đặt hàng theo “đề tài rời rạc” sang đặt hàng theo “bài toán ưu tiên-chuỗi sản phẩm-KPI”.
Cách tiếp cận này giúp nhiệm vụ khoa học đi từ nghiên cứu cơ sở đến thí điểm và nhân rộng, thay vì kết thúc ở nghiệm thu. Ngoài ra, cần xây dựng kho dữ liệu dùng chung phục vụ quản trị, nghiên cứu và thiết lập cơ chế đồng tài trợ theo mô hình “ba nhà”: Tỉnh-trường-doanh nghiệp.
Một “nút thắt” quan trọng trong chuyển giao là năng lực hấp thụ và vận hành công nghệ tại địa phương. Do đó, liên kết cần gắn chặt với đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và phát triển nguồn nhân lực tại chỗ. Tỉnh có thể triển khai một số gói giải pháp thí điểm trong 1-2 năm đầu, như: Hệ thống dashboard quản trị dữ liệu KT-XH; bản đồ GIS rủi ro thiên tai; số hóa di sản và du lịch thông minh… Một số nhà trường cũng đề xuất tỉnh mạnh dạn triển khai các giải pháp nhiều tiềm năng khác, như: Xây dựng mô hình hợp tác “3 bên-4 nhà”; thí điểm cơ chế đồng tài trợ linh hoạt; hình thành mạng lưới chuyên gia phục vụ phát triển địa phương; phát triển hệ sinh thái ĐMST cấp địa phương…

