Bài 4: Hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng
(Chinhphu.vn) - “Cần nghiên cứu giải pháp hạn chế hoặc cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến, kèm theo các điều kiện và giải pháp cụ thể. Đồng thời, các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, phòng chống xâm hại trẻ em trên không gian mạng”.

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa
Đại biểu chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa mới đây trong phiên thảo luận tổ về tình hình kinh tế - xã hội tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã bày tỏ lo ngại tình trạng trẻ em bị xâm hại trên không gian mạng với nhiều hình thức tinh vi như bắt cóc online, bạo lực, bắt nạt qua mạng.
"Nghiên cứu giải pháp hạn chế hoặc cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến"
Không phải ngẫu nhiên mà hiện nay một số nước trên thế giới áp dụng lệnh cấm trẻ em dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội và nghiên cứu những quy định tương tự bởi những hệ lụy do mạng xã hội mang lại.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa đã nêu: Thực tế ở các địa phương từng xảy ra một số vụ bạo lực của học sinh phổ thông, đặc biệt ở ngoài nhà trường, với tính chất và mức độ phức tạp, nghiêm trọng. Điều này làm ảnh hưởng đến môi trường giáo dục, thể chất và tinh thần của học sinh, gây lo lắng và bức xúc trong dư luận xã hội.
Tình trạng bạo hành tại các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở nuôi dưỡng tư nhân vẫn xảy ra, điển hình như vụ tại Trung tâm công tác xã hội Hải Hà (Quảng Ninh) và một số cơ sở bảo trợ, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, thậm chí tính mạng trẻ em.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa cũng cho biết một số quốc gia đã áp dụng biện pháp tương tự. Australia cấm người dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội từ tháng 12/2025; Indonesia và Pháp áp dụng từ tháng 3/2026; Anh đang thí điểm hạn chế một số nền tảng. Nhiều quốc gia khác cũng nghiên cứu quy định tương tự nhằm bảo vệ trẻ trước nội dung độc hại và nguy cơ nghiện thiết bị số.
Đặc biệt theo bà Mai Thoa, không phải phụ huynh nào cũng có đủ thời gian theo dõi con sử dụng mạng xã hội, trong khi trẻ em chưa hoàn thiện nhận thức, dễ bị lôi kéo tiếp cận nội dung nhạy cảm, không phù hợp với lứa tuổi.
Do đó, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa đã đề nghị nghiên cứu giải pháp hạn chế hoặc cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến, kèm theo các điều kiện và giải pháp cụ thể. Đồng thời, các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, phòng chống xâm hại trẻ em trên không gian mạng.
Đề nghị nghiên cứu giải pháp hạn chế hoặc cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến, kèm theo các điều kiện và giải pháp cụ thể. Đồng thời, các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, giám sát, phòng chống xâm hại trẻ em trên không gian mạng.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Mai Thoa
Ở góc độ nghiên cứu quyền của trẻ em, với gần 20 năm công tác và đào tạo cho hàng triệu trẻ em cùng phụ huynh trên cả nước về kiến thức bảo vệ trẻ em, trao đổi với Báo Điện tử Chính phủ, ThS. Phan Lan Hương, Giám đốc trung tâm Nghiên cứu Quyền trẻ em, Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam cho biết, bên cạnh những ưu điểm tích cực thì mạng xã hội cũng có những mặt tiêu cực ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống xã hội nói chung và trẻ em nói riêng. Có nhiều vụ việc xảy ra trong đời thực nhưng lại đâu đấy giống một tình huống nào đó thấy được trên mạng xã hội, đặc biệt là trẻ em.
Theo bà Phan Lan Hương, việc sử dụng internet hay mạng xã hội là cần thiết, là có ích với trẻ em nếu phục vụ cho sự phát triển mọi mặt của các em trong cuộc sống hàng ngày, còn ngược lại thì chúng ta cần suy nghĩ và cân nhắc khi trẻ em được tiếp cận với mạng xã hội.
Bà Phan Lan Hương cũng đưa ra quan điểm "cấm" như thế nào cũng cần có lộ trình. Bên cạnh đó, điều quan trọng nhất là dạy các em thật tốt về cách thức phòng chống tội phạm trên mạng xã hội. Cách thức bảo vệ an toàn bản thân trên mạng xã hội. Hỗ trợ gia đình, cộng đồng có kiến thức về an toàn khi sử dụng mạng xã hội để họ hỗ trợ, bảo vệ con của họ khỏi những hình thức không an toàn trên không gian mạng.
Bà Phan Lan Hương cho biết, ở Việt Nam, hướng tiếp cận cho trẻ em sử dụng mạng xã hội, đó là "quản lý linh hoạt và giáo dục kỹ năng số". Cũng đã có các khung pháp lý rõ ràng trong hướng quản lý này đối với trẻ em Việt Nam như: Nghị định 147/2024/NĐ-CP về việc trẻ em dưới 16 tuổi khi đăng ký tài khoản mạng xã hội phải được sự đồng ý của cha mẹ, người giám hộ hay Luật An ninh mạng 2025 cũng có những quy định cụ thể về việc trẻ em sử dụng mạng xã hội.
Các cơ quan có liên quan cũng cần đẩy mạnh các biện pháp ngăn chặn những tài khoản, ứng dụng không lành mạnh đối với trẻ em kịp thời, có đường dây nóng giải quyết nhanh chóng kịp thời nếu có báo cáo của người dân... và việc "cấm" sử dụng mạng xã hội đối với trẻ em cũng cần nghiên cứu kỹ để khi đưa ra áp dụng trong cuộc sống có hiệu quả.
Bà Lan Hương cũng đề xuất một số giải pháp trong đó có yêu cầu xác thực định danh bắt buộc với các tài khoản, xác thực chặt chẽ và hiệu quả độ tuổi của trẻ, sử dụng công nghệ để xác nhận độ tuổi của trẻ...
Đồng thời, cần có chế tài chặt chẽ đối với cha mẹ vi phạm những cam kết về việc trẻ em sử dụng mạng xã hội và nếu có hậu quả từ việc gia đình không quản lý chặt chẽ đối với trẻ em thì cần có chế tài xử phạt mạnh mang tính răn đe xã hội.
Cũng như vậy đối với các nền tảng xã hội, nếu để trẻ em tiếp cận đến những nội dung có hại (nội dung khiêu dâm, thử thách độc hại, game độc hại, các hội nhóm với nội dung không phù hợp, bọa lực...) cần phải có chế tài nặng.
Bên cạnh đó, đưa nội dung sử dụng mạng xã hội an toàn vào các trường học dành cho mọi đối tượng là trẻ em. Đào tạo tập huấn cho cha mẹ về nội dung này, tuyên truyền sâu rộng trong xã hội để mọi người có kiến thức nâng cao cảnh giác và bảo vệ trẻ em khỏi sự mất an toàn khi sử dụng mạng xã hội.
Đồng thời, đẩy mạnh các hình thức phòng ngừa đối với trẻ em, cha mẹ trẻ, cộng đồng xã hội, trong trường học là điều quan trọng. Đẩy mạnh các hoạt động vui chơi sinh hoạt thể thao trong cộng đồng, trường học tạo sân chơi cho trẻ em. Giảm bớt sử dụng mạng xã hội trong vấn đề học tập (việc các em lười tư duy suy nghĩ và sử dụng AI, các ứng dụng chat GPT... trong học tập là điều đáng quan ngại nếu không có sự kiểm soát dùng đúng mục đích và đúng cách). Thay vào đó, chúng ta có thể cho các con nhiều hơn bài tập thực hành gắn liền với thực tế, với cuộc sống hằng ngày, để mạng xã hội là công cụ, chứ trẻ em không thể trở thành nô lệ của mạng xã hội.
Bản thân người lớn là cha mẹ cũng cần nghiêm ngặt quản lý cách thức sử dụng mạng xã hội của bản thân để các con trong gia đình nhìn vào và bắt chước làm theo. Trong thời gian ở nhà, phụ huynh cần chơi với các con nhiều hơn, cùng nhau học tập, dọn dẹp và cùng tham gia vào các hoạt động thể thao giải trí có ích, chứ không phải thời gian đó mỗi bố mẹ một điện thoại sử dụng cho mục đích cá nhân. Hãy sử dụng điện thoại sau ánh mắt trẻ em.

Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường, Ủy viên Ban chấp hành Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam. Ảnh: VGP
4 nhóm giải pháp góp phần bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng
TS. Luật sư Đặng Văn Cường, Ủy viên Ban chấp hành Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam đã có những trao đổi cụ thể với Báo Điện tử Chính phủ về những vấn đề liên quan đến cần hoàn thiện khung pháp lý như thế nào để nâng cao trách nhiệm của các nền tảng mạng xã hội trong việc bảo vệ người dùng nhỏ tuổi.
TS.LS Đặng Văn Cường cũng cho biết, thời gian gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Australia và Indonesia, đã ban hành các quy định siết chặt việc trẻ vị thành niên sử dụng mạng xã hội. Đối với Việt Nam, nguyên tắc xây dựng pháp luật là những hoạt động gây nguy hại cho xã hội, đe dọa lợi ích chung hoặc cản trở việc thực hiện các quyền cơ bản của công dân thì sẽ bị cấm, thậm chí cấm tuyệt đối và xử lý nghiêm khắc nếu vi phạm. Tuy nhiên, đối với những lĩnh vực vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực như mạng xã hội thì pháp luật thường áp dụng biện pháp quản lý để phát huy mặt tốt và hạn chế mặt xấu. Trong trường hợp này, pháp luật đặt ra hai công cụ là "cấm" và "quản".
Theo TS.LS Đặng Văn Cường, cùng với sự phát triển của xã hội số, các hoạt động trên không gian mạng ngày càng phổ biến. Việt Nam cũng đang hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật để quản lý không gian mạng, xây dựng kinh tế số, công dân số và môi trường mạng lành mạnh.
Hiện nay Việt Nam đã có nhiều văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng như: Luật Trẻ em 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật An toàn thông tin mạng 2015 cùng nhiều luật và chính sách mới như :Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật Công nghiệp công nghệ số…
Các quy định hiện hành chưa "cấm" trẻ em dưới 16 tuổi sử dụng mạng xã hội thay vào đó, chính sách pháp luật của Việt Nam tập trung vào việc tăng cường giám sát của gia đình, nhà trường và xã hội; yêu cầu các nền tảng mạng xã hội có trách nhiệm kiểm soát nội dung, gắn nhãn, sàng lọc thông tin độc hại; đồng thời đẩy mạnh giáo dục kỹ năng sống và kỹ năng an toàn trên môi trường mạng cho trẻ em.
Xu hướng của Việt Nam tương tự nhiều quốc gia châu Âu và Australia là tăng cường quản lý nội dung, nâng cao trách nhiệm của các nền tảng mạng xã hội, ứng dụng công nghệ để kiểm duyệt thông tin và tăng cường vai trò quản lý của gia đình, nhà trường.
TS.LS Đặng Văn Cường đã chỉ ra những hạn chế trong việc áp dụng các quy định pháp lý về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng vào thực tiễn. Theo TS.LS Đặng Văn Cường, về mặt lý luận, pháp luật luôn vận động cùng với sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh công nghệ thông tin bùng nổ và các hoạt động trên không gian mạng ngày càng phổ biến, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để quản lý môi trường mạng và bảo vệ trẻ em là yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng không chỉ dừng ở việc xây dựng chính sách hay ban hành quy định pháp luật mà còn phụ thuộc nhiều vào khâu tổ chức thực hiện và nhận thức của gia đình, nhà trường cũng như xã hội.
Thời gian qua, hệ thống pháp luật liên quan đến vấn đề này như Luật Trẻ em, Luật An ninh mạng, các quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân cùng với các chiến lược và văn bản dưới luật đã từng bước được hoàn thiện, đưa ra nhiều quy định tiến bộ nhằm tăng cường bảo vệ trẻ em trên không gian mạng, nhưng trong thực tế việc áp dụng vẫn còn nhiều hạn chế.
Một trong những nguyên nhân là nhận thức về các quy định pháp luật này chưa đồng đều ở phụ huynh và giáo viên, khiến việc triển khai chưa thực sự hiệu quả. Nhiều phụ huynh bận rộn với công việc nên không có đủ thời gian hoặc kỹ năng để kiểm soát việc sử dụng internet của con. Trong khi đó, một số giáo viên cũng chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và phương pháp giáo dục an toàn mạng cho học sinh.
Bên cạnh đó, các đơn vị cung cấp nền tảng mạng xã hội chạy theo doanh thu, thu hút người sử dụng, đôi khi không tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo mật thông tin, bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
Ngoài ra, sự phát triển quá nhanh chóng của công nghệ cũng kéo theo những mặt trái của nó, những hành vi vi phạm mới, những đối tượng am hiểu nghệ tác động tiêu cực đến môi trường mạng, trong đó có việc gieo rắc những thông tin độc hại, nguy hiểm trên mạng xã hội.
Do đó, hoàn thiện chính sách, xây dựng pháp luật, đặc biệt là pháp luật trên không gian mạng, chú trọng đến mục tiêu bảo vệ trẻ em là nhiệm vụ cần thiết không chỉ đối với Việt Nam mà còn với nhiều quốc gia. Khi xã hội càng phát triển, khoa học công nghệ càng phát triển thì pháp luật cũng càng phải hoàn thiện để tương thích, để phù hợp, qua đó phát huy mặt tích cực của công nghệ và hạn chế những tác động tiêu cực đối với trẻ em.
TS.LS Đặng Văn Cường cho rằng cần hoàn thiện chính sách pháp luật để tăng cường các giải pháp quản lý, từ quản lý các đơn vị cung cấp dịch vụ mạng xã hội, quản lý các cơ quan chuyên trách để kiểm soát nội dung trên mạng xã hội, tăng cường xử lý vi phạm hành chính, thậm chí xử lý hình sự đối với các hành vi xâm hại trẻ em trên không gian mạng.
Tăng cường quản lý trẻ em bằng các giải pháp dán nhãn, sàng lọc, ngăn chặn thông tin từ đầu nguồn và nâng cao trách nhiệm của gia đình, của nhà trường trong công tác quản lý, giáo dục trẻ em.
Hoàn thiện chính sách, xây dựng pháp luật, đặc biệt là pháp luật trên không gian mạng, chú trọng đến mục tiêu bảo vệ trẻ em là nhiệm vụ cần thiết không chỉ đối với Việt Nam mà còn với nhiều quốc gia.
Tiến sĩ, Luật sư Đặng Văn Cường, Ủy viên Ban chấp hành Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam
Một trong những nguyên nhân là nhận thức về các quy định pháp luật này chưa đồng đều ở phụ huynh và giáo viên, khiến việc triển khai chưa thực sự hiệu quả. Nhiều phụ huynh bận rộn với công việc nên không có đủ thời gian hoặc kỹ năng để kiểm soát việc sử dụng internet của con. Trong khi đó, một số giáo viên cũng chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và phương pháp giáo dục an toàn mạng cho học sinh.
Bên cạnh đó, các đơn vị cung cấp nền tảng mạng xã hội chạy theo doanh thu, thu hút người sử dụng, đôi khi không tuân thủ đầy đủ các quy định về bảo mật thông tin, bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.
Ngoài ra, sự phát triển quá nhanh chóng của công nghệ cũng kéo theo những mặt trái của nó, những hành vi vi phạm mới, những đối tượng am hiểu nghệ tác động tiêu cực đến môi trường mạng, trong đó có việc gieo rắc những thông tin độc hại, nguy hiểm trên mạng xã hội.
Do đó, hoàn thiện chính sách, xây dựng pháp luật, đặc biệt là pháp luật trên không gian mạng, chú trọng đến mục tiêu bảo vệ trẻ em là nhiệm vụ cần thiết không chỉ đối với Việt Nam mà còn với nhiều quốc gia. Khi xã hội càng phát triển, khoa học công nghệ càng phát triển thì pháp luật cũng càng phải hoàn thiện để tương thích, để phù hợp, qua đó phát huy mặt tích cực của công nghệ và hạn chế những tác động tiêu cực đối với trẻ em.

Để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng nói chung và trong các nền tảng mạng xã hội nói riêng thì cần thực hiện đồng bộ rất nhiều các nhóm giải pháp. Ảnh: VGP
Để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng nói chung và trong các nền tảng mạng xã hội nói riêng thì cần thực hiện đồng bộ rất nhiều các nhóm giải pháp.
Thứ nhất, nhóm giải pháp ở cấp độ pháp lý-chính sách
Hiện nay Việt Nam đã có nền tảng pháp lý như: Luật Trẻ em 2016; Luật An ninh mạng 2018; Luật An toàn thông tin mạng 2015; Luật Giao dịch điện tử; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân; Luật Tư pháp người chưa thành niên; Luật Công nghiệp công nghệ số... và rất nhiều các văn bản dưới luật, các văn bản chuẩn bị được ban hành thông qua trong thời gian tới, góp phần ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam để quản lý các hoạt động trên không gian mạng, trong đó có quản lý, bảo vệ trẻ em.
Tuy nhiên, cần tiếp tục bổ sung và cụ thể hóa các quy định theo hướng làm rõ trách nhiệm của các nền tảng mạng xã hội trong việc bảo vệ trẻ em. Các nền tảng cần có cơ chế kiểm soát nội dung ngay từ đầu nguồn như dán nhãn, sàng lọc và cảnh báo đối với các thông tin không phù hợp với trẻ.
Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật cần bổ sung quy định riêng về bảo vệ trẻ em trên không gian mạng. Có thể xây dựng các văn bản dưới luật về bảo vệ trẻ em trên không gian mạng như: Nghị định chuyên biệt về bảo vệ trẻ em trên môi trường số, hướng dẫn luật trẻ em về bảo vệ trẻ em trên không gian mạng... Trong đó, quy định rõ nghĩa vụ xác minh độ tuổi của trẻ em tương ứng với các loại thông tin trên mạng xã hội; trách nhiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo cũng như các thành tựu của khoa học công nghệ của đơn vị quản lý dịch vụ mạng xã hội; cơ chế lọc nội dung tự động; thời gian gỡ bỏ thông tin độc hại; trách nhiệm trong việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý thông tin độc hại; thời gian phản hồi khi có tố cáo xâm hại. Để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng nói chung và trong các nền tảng mạng xã hội nói riêng thì cần thực hiện đồng bộ rất nhiều các nhóm giải pháp.
Thứ nhất, nhóm giải pháp ở cấp độ pháp lý-chính sách
Hiện nay Việt Nam đã có nền tảng pháp lý như: Luật Trẻ em 2016; Luật An ninh mạng 2018; Luật An toàn thông tin mạng 2015; Luật Giao dịch điện tử; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân; Luật Tư pháp người chưa thành niên; Luật Công nghiệp công nghệ số... và rất nhiều các văn bản dưới luật, các văn bản chuẩn bị được ban hành thông qua trong thời gian tới, góp phần ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam để quản lý các hoạt động trên không gian mạng, trong đó có quản lý, bảo vệ trẻ em.
Tuy nhiên, cần tiếp tục bổ sung và cụ thể hóa các quy định theo hướng làm rõ trách nhiệm của các nền tảng mạng xã hội trong việc bảo vệ trẻ em. Các nền tảng cần có cơ chế kiểm soát nội dung ngay từ đầu nguồn như dán nhãn, sàng lọc và cảnh báo đối với các thông tin không phù hợp với trẻ.
Bên cạnh đó, các văn bản quy phạm pháp luật cần bổ sung quy định riêng về bảo vệ trẻ em trên không gian mạng. Có thể xây dựng các văn bản dưới luật về bảo vệ trẻ em trên không gian mạng như: Nghị định chuyên biệt về bảo vệ trẻ em trên môi trường số, hướng dẫn luật trẻ em về bảo vệ trẻ em trên không gian mạng... Trong đó, quy định rõ nghĩa vụ xác minh độ tuổi của trẻ em tương ứng với các loại thông tin trên mạng xã hội; trách nhiệm ứng dụng trí tuệ nhân tạo cũng như các thành tựu của khoa học công nghệ của đơn vị quản lý dịch vụ mạng xã hội; cơ chế lọc nội dung tự động; thời gian gỡ bỏ thông tin độc hại; trách nhiệm trong việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý thông tin độc hại; thời gian phản hồi khi có tố cáo xâm hại.
Thứ hai, cần nâng cao trách nhiệm pháp lý của nền tảng mạng xã hội.
Các nền tảng như Facebook, TikTok hay YouTube cần thiết lập chế độ tài khoản an toàn cho trẻ em, không cá nhân hóa quảng cáo dựa trên dữ liệu trẻ vị thành niên và phải gỡ bỏ nội dung độc hại trong thời gian ngắn; có đại diện pháp lý tại Việt Nam.
Khi Việt Nam có cơ sở pháp lý rõ ràng đối với trách nhiệm của các đơn vị mạng xã hội hoạt động ở Việt Nam thì mới có thể quản lý được các nền tảng xuyên biên giới này, không chỉ để thu thuế, bảo vệ trẻ em mà còn bảo vệ chủ quyền an ninh quốc gia trên không gian mạng.
Bên cạnh đó, cần quy định cụ thể cơ chế xác minh độ tuổi bằng công nghệ: Ứng dụng AI nhận diện hành vi người dùng; Liên kết với dữ liệu định danh điện tử (có cơ chế bảo mật nghiêm ngặt) thay vì chỉ dựa vào "tự khai năm sinh".
mạng xã hội, mở rộng tri thức và không trở thành nạn nhân của môi trường số.
Thứ ba, nhóm giải pháp ở cấp độ giáo dục-gia đình
Pháp luật không thể thay thế vai trò gia đình. Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng sẽ không đạt hiệu quả nếu như chỉ có nhà nước và các đơn vị quản lý mạng xã hội. Một trong những khâu quan trọng là sự kiểm soát của cha mẹ đối với hành vi của con, kiểm soát thời gian, nội dung, mục đích sử dụng mạng xã hội của con thì mới đảm bảo an toàn cho trẻ em trên không gian mạng.
Giáo dục kỹ năng số từ sớm. Cha mẹ, thầy cô phải có kiến thức, hiểu biết, kỹ năng về giáo dục trẻ em trên không gian mạng. Trẻ cần được dạy những kiến thức kỹ năng cơ bản khi tham gia vào các hoạt động trên nền tảng số như: Cách bảo mật thông tin cá nhân; nhận diện lừa đảo, dụ dỗ; cách xử lý khi bị bắt nạt mạng. Các kỹ năng này có thể học được trên mạng xã hội một cách thụ động hoặc có thể được học tập rèn luyện chủ động từ môi trường học đường hoặc từ các bài học, hướng dẫn của cha mẹ.
Các chương trình giáo dục phổ thông cũng cần giảm thiểu chương trình về kiến thức, gia tăng thời lượng giảng dạy, rèn luyện kỹ năng cho trẻ, trong đó có kỹ năng bảo vệ bản thân trên không gian mạng. Cần sửa đổi chương trình đào tạo sao cho kỹ năng số nên trở thành một nội dung chính khóa trong trường học.
Phụ huynh đồng hành thay vì kiểm soát cực đoan. Thời gian qua không ít các bậc phụ huynh than phiền, thậm chí bất lực khi không kiểm soát được thời gian cũng như việc sử dụng điện thoại của con trẻ. Nhiều gia đình trở nên căng thẳng, thiếu hòa khí, thậm chí mất kết nối với cha mẹ do vấn đề sử dụng mạng xã hội . Bởi vậy cha mẹ cần phải có kỹ năng phù hợp, cần phải có thỏa thuận thời gian sử dụng điện thoại, internet, mạng xã hội đối với con; Cài đặt chế độ kiểm soát phù hợp lứa tuổi; Tạo môi trường trao đổi cởi mở. Cha mẹ cần đồng hành với con trong mỗi bước đường, kể cả trong các hoạt động trên không gian mạng.
Thứ tư, giải pháp công nghệ
Ngoài giải pháp về hoàn thiện chính sách pháp luật, giải pháp tăng cường quản lý của gia đình thì các giải pháp về nghệ là không thể không nhắc đến. Cần phải có bộ lọc nội dung theo độ tuổi đối với các nền tảng mạng xã hội để có những thông tin phù hợp với lứa tuổi; chế độ "trẻ em" mặc định trên các nền tảng mạng xã hội; cảnh báo khi trẻ xem nội dung nhạy cảm; công cụ báo cáo xâm hại đơn giản, dễ tiếp cận.
Giải pháp tối ưu phải dựa trên 4 trụ cột: Pháp luật chặt chẽ-Nền tảng chịu trách nhiệm-Gia đình đồng hành-Trẻ em có kỹ năng số. Chỉ khi đủ 4 yếu tố này, trẻ em mới có thể khai thác lợi ích của mạng xã hội, mở rộng tri thức và không trở thành nạn nhân của môi trường số.
Thùy Linh – Thúy Hà
Bài 5: Để trẻ em bước vào "thế giới số" một cách tự tin và an toàn











