Bài cuối: 'Khoảng trống' nào khiến bạo lực gia đình vẫn hoành hành?

Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình (BLGĐ) đã tương đối hoàn thiện, nhưng còn không ít người vẫn bị mắc kẹt trong vòng xoáy BLGĐ, gây hậu quả nghiêm trọng. Từ thực tiễn ở cơ sở, hoạt động phòng, chống BLGĐ cho thấy khoảng cách lớn nhất hiện nay không còn nằm ở việc thiếu luật, mà nằm ở năng lực thực thi pháp luật.

Luật đã đầy đủ, nhưng bạo lực vẫn chưa dừng lại

Có thể khẳng định, sau nhiều năm triển khai, hệ thống pháp luật về phòng, chống BLGĐ đã được hoàn thiện, bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong bảo vệ người bị bạo lực, mở rộng phạm vi nhận diện các hành vi bạo lực và tăng cường trách nhiệm của cơ quan chức năng. Ngày 1/7/2023, Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022 có hiệu lực thay thế Luật năm 2007. Ngay sau khi Luật có hiệu lực, một loạt các văn bản quy phạm pháp luật cũng đã được ban hành để bảo đảm tính thực thi của Luật.

Tháng 5/2025, trả lời phỏng vấn kết quả 2 năm thực thi Luật Phòng, chống BLGĐ, ông Khuất Văn Quý, Phó Cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện cho biết, trong năm 2023 và 2024, cả nước thống kê được 5.350 hộ gia đình có BLGĐ với hơn 5.560 vụ. So với trước, tình hình bạo lực giảm cả về số hộ gia đình và số vụ bạo lực. Điều này cho thấy những chuyển biến tích cực trong công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi BLGĐ; đồng thời phản ánh sự nâng cao nhận thức của người dân và hiệu quả của hệ thống bảo vệ, hỗ trợ người bị BLGĐ. Quan niệm coi BLGĐ là “chuyện riêng” dần được thay thế, người dân ngày càng tìm đến sự hỗ trợ của cộng đồng và cơ quan chức năng.

Cũng theo ông Quý, các mô hình phòng, chống BLGĐ tiếp tục được duy trì và phát huy hiệu quả. Tính đến năm 2024, cả nước có hơn 12.000 mô hình; gần 30.000 câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững; hơn 39.000 nhóm phòng, chống BLGĐ; khoảng 50.000 địa chỉ tin cậy ở cộng đồng…

Các biện pháp ngăn chặn, xử lý hành vi BLGĐ được triển khai đồng bộ, ngày càng chuyên nghiệp. Riêng giai đoạn 2023 - 2024 có khoảng 4.000 người có hành vi BLGĐ được góp ý, phê bình; 300 trường hợp được giáo dục tại xã, phường; hơn 400 người bị xử phạt vi phạm hành chính và 240 trường hợp bị xử lý hình sự.

Đặc biệt, công tác hỗ trợ người bị BLGĐ đã được triển khai toàn diện, kịp thời. Trong 2 năm qua, khoảng 4.200 người bị BLGĐ đã được bảo vệ và hỗ trợ, góp phần khẳng định quyết tâm của cả hệ thống chính trị trong phòng, chống BLGĐ.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, thì thực tế nhiều vụ việc BLGĐ xảy ra gần đây cho thấy một mức độ nghiêm trọng. Những vụ bạo hành trẻ em, bạo hành người thân trong gia đình, bạo hành con nuôi, bạo hành vợ/chồng đã ly hôn… cho thấy trong không ít vụ việc người bị BLGĐ đã phải chịu đựng bạo lực trong thời gian dài trước khi sự việc bị phát hiện. Tại sao lại như vậy?

Cả thực tiễn cuộc sống và pháp luật đều đã mở rộng sự nhìn nhận, nhận diện các hành vi BLGĐ. Theo đó, BLGĐ không chỉ là những “tác động vật lý” như đánh, đấm, đá… lên cơ thể nữa mà đã mở rộng sang nhiều dạng bạo lực khác như: Bạo lực tinh thần, bạo lực kinh tế, kiểm soát tài chính, cô lập quan hệ xã hội, xúc phạm danh dự, cưỡng ép tâm lý… Trong năm 2023 và 2024, cả nước thống kê được 5.350 hộ gia đình có BLGĐ với hơn 5.560 vụ thì trong đó, bạo lực tinh thần và bạo lực thân thể chiếm tỷ lệ cao nhất.

Một trong những “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay nằm ở cách tiếp cận của nhiều cán bộ cơ sở đối với các vụ việc BLGĐ. Hiện nay, trong thực tế, nhiều tổ hòa giải, cán bộ thôn, tổ dân phố vẫn mang nặng tư duy: “Vợ chồng cãi nhau là chuyện bình thường”, “không nên làm lớn chuyện”, “về nhà đóng cửa bảo nhau”… Chính tâm lý này khiến nhiều hành vi BLGĐ không được nhận diện đúng mức độ nguy hiểm.

Cục Bà mẹ và Trẻ em, Bộ Y tế vừa có báo cáo về tình hình trẻ em thông qua hoạt động của Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em (Tổng đài 111) trong tháng 4/2026. Bên cạnh số liệu cho thấy thực trạng đáng lo ngại về các vấn đề BLGĐ với trẻ em thì một vấn đề rất đáng lo ngại theo Cục là sự khó khăn trong quá trình can thiệp, hỗ trợ trẻ em tại địa phương khi xảy ra vụ việc. Báo cáo nêu rõ, Tổng đài 111 đã gặp không ít khó khăn khi kết nối với cán bộ địa phương; nhiều người chủ động tắt máy hoặc từ chối nghe cuộc gọi từ Tổng đài.

Theo Điều tra Quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ năm 2019, 52,5% phụ nữ chịu bạo lực không chia sẻ với bất kỳ ai, cho thấy rào cản lớn trong tiếp cận hỗ trợ khi nhiều người bị BLGĐ trong thời gian dài nhưng không dám tố cáo vì sợ ảnh hưởng con cái, điều tiếng xã hội, phụ thuộc kinh tế, hoặc thậm chí không tin rằng hành vi mình đang chịu đựng được pháp luật xem là bạo lực…

Lấp “khoảng trống” bằng cơ chế thực thi hiệu quả

Có một thực tế là nhiều người bị BLGĐ không dám rời bỏ người bạo hành vì… không biết đi đâu. Hiện nay số lượng nhà tạm lánh, trung tâm hỗ trợ khẩn cấp, cơ sở tư vấn tâm lý, pháp lý vẫn còn rất hạn chế, đặc biệt ở cấp địa phương khiến cho ở nhiều nơi, phụ nữ bị bạo lực nếu rời khỏi nhà gần như không có nơi trú ẩn an toàn và việc họ quay trở lại môi trường bạo lực khiến nguy cơ tái diễn tiếp tục xảy ra.

Luật Phòng, chống BLGĐ năm 2022 đã lần đầu tiên đưa “nhà an toàn” vào nhóm dịch vụ hỗ trợ bắt buộc và mở rộng cả đối tượng, cơ chế vận hành, tiêu chuẩn chuyên môn. Theo ông Khuất Văn Quý, tính đến năm 2024, cả nước có khoảng 50.000 địa chỉ tin cậy ở cộng đồng. Hội LHPN Việt Nam tiếp tục vận hành Trung tâm trợ giúp xã hội - Ngôi nhà bình yên và các mô hình như “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, “Gia đình hạnh phúc”…

Trung ương Hội Nông dân triển khai mô hình “Người cha trách nhiệm”, một số địa phương phát triển mô hình “Một cửa” hỗ trợ toàn diện phụ nữ, trẻ em bị bạo lực, xâm hại. Những mô hình này không chỉ nâng cao năng lực ứng phó mà còn là điểm tựa thiết thực cho người bị BLGĐ.

Ngày 2/10/2025, tại Lễ kỷ niệm 95 năm thành lập Hội LHPN Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ đạo mỗi tỉnh có ít nhất 5 “nhà an toàn” cho phụ nữ và trẻ em: “Mỗi tỉnh có ít nhất 5 “nhà an toàn” cho phụ nữ và trẻ em, kết nối đường dây nóng 24/7. Mỗi xã, phường có một mô hình dịch vụ chăm sóc cộng đồng do phụ nữ làm nòng cốt...”.

Như vậy có thể thấy, vấn đề lớn nhất hiện nay của vấn đề vẫn tồn tại “khoảng trống” khiến BLGĐ hoành hành không còn nằm ở việc thiếu luật, mà nằm ở sự thiếu đồng bộ trong thực thi. Nói cách khác, “khoảng trống” hiện nay không nằm trên văn bản luật, mà nằm ở khoảng cách giữa luật và đời sống.

Trao đổi về vấn đề này, nhiều chuyên gia cho rằng, muốn giảm bạo lực gia đình, cần chuyển từ tư duy “xử lý hậu quả” sang “can thiệp sớm và phòng ngừa chủ động”, tập trung vào ba nhóm giải pháp lớn: Thứ nhất, nâng cao năng lực thực thi ở cơ sở; thứ hai, xây dựng hệ sinh thái bảo vệ nạn nhân; thứ ba, tăng trách nhiệm cộng đồng và cơ chế bảo vệ người tố giác.

Tại Tọa đàm trong khuôn khổ Lễ khởi động Dự án “Nâng cao năng lực phòng ngừa và ứng phó với BLGĐ giai đoạn 2025 - 2026” tháng 12/2025, Trưởng đại diện UNFPA tại Việt Nam - ông Matt Jackson nhấn mạnh: Chấm dứt BLGĐ cần có một khung pháp lý tốt, đồng thời phải có sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị - xã hội, của mỗi gia đình, cộng đồng. Nỗ lực ấy đòi hỏi đội ngũ cán bộ ở mọi lĩnh vực được trang bị đầy đủ kỹ năng và tự tin để hành động. Nỗ lực ấy đòi hỏi nam giới và trẻ em trai tham gia với vai trò là những người đồng hành vì tôn trọng, bình đẳng và trách nhiệm chung.

Theo ông Khuất Văn Quý, để nâng cao hiệu quả phòng, chống BLGĐ trong thời gian tới, một trong những nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2025 - 2027 là đặt trọng tâm vào nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác gia đình, nhất là cấp xã và thiết lập mạng lưới cộng tác viên rộng khắp. Phối hợp với các Bộ, ngành rà soát, kiện toàn cán bộ làm công tác gia đình. Đồng thời hướng dẫn địa phương đánh giá hiệu quả của công tác gia đình để sắp xếp, bố trí bộ máy, đội ngũ cán bộ làm công tác gia đình, trong đó chú trọng nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình phù hợp với chính quyền địa phương 2 cấp.

Tổng kết, đánh giá và xây dựng, ban hành Quy chế phối hợp liên ngành, thay thế quy chế hiện hành nhằm tăng cường trách nhiệm, thống nhất hành động và bảo đảm hiệu lực thực thi. Cùng với đó là xây dựng, ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chỉ đạo công tác gia đình các cấp, làm rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp và giám sát…

X.Hoa - N.Mai - N.Hương

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/bai-cuoi-khoang-trong-nao-khien-bao-luc-gia-dinh-van-hoanh-hanh.html