Bãi đá thải mỏ Núi Dùm: Người dân lo ảnh hưởng đất canh tác, nguồn nước

Theo quy định hiện hành, khoảng cách tối thiểu giữa các bãi đá thải từ hoạt động khai thác hầm lò và các khu vực dân cư là 500m. Điều này nhằm đảm bảo an toàn cho người dân và giảm thiểu tác động tiêu cực do các hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản. Thế nhưng, tại tỉnh Tuyên Quang, sau khi cấp phép hoạt động khai thác quặng chì - kẽm tại mỏ Nông Tiến - Núi Dùm, nhiều năm qua người dân luôn phải sống trong thấp thỏm lo sợ do bãi đá thải ngày một phình to hơn.

Toàn cảnh khu vực khai thác của mỏ chì - kẽm Núi Dùm tại tổ 5 phường Nông Tiến.

Toàn cảnh khu vực khai thác của mỏ chì - kẽm Núi Dùm tại tổ 5 phường Nông Tiến.

Núi Dùm vốn được ví như “Tam Đảo của xứ Tuyên” nhờ sở hữu hệ thực vật phong phú, đóng vai trò là lá phổi xanh điều hòa không khí cho toàn bộ khu vực lân cận. Tuy nhiên, các hoạt động khai thác quặng chì - kẽm của Công ty Cổ phần Đầu tư Xuất nhập khẩu Tây Đô (Công ty CP Tây Đô) thời gian qua đã và đang tạo ra những sức ép nặng nề lên hệ sinh thái nơi đây, biến khu vực này thành một điểm nóng về rủi ro môi trường và an toàn dân sinh.

 Bãi đá thải tại mỏ chì - kẽm Nông Tiến Núi Dùm nằm ở vị trí cao, phía dưới là khu vực sinh sống và canh tác của người dân.

Bãi đá thải tại mỏ chì - kẽm Nông Tiến Núi Dùm nằm ở vị trí cao, phía dưới là khu vực sinh sống và canh tác của người dân.

Bãi thải treo trên đầu khu dân cư

Nhìn từ xa, khu vực đại công trường khai thác chì - kẽm hiện lên với cảnh tượng bị đào bới nham nhở, biến dạng và nguy cơ sụt lún rất rõ, có chỗ hoẳm sâu khoảng vài chục mét. Đáng lo ngại hơn cả là bãi đá thải khổng lồ nằm ở vị trí độ dốc cao, tạo thành khối đất đá “treo” lơ lửng ngay phía trên khu vực sinh sống và canh tác của người dân. Hệ quả là nhiều diện tích đất trồng trọt, vườn tược phía dưới đã phải bỏ hoang do không thể tiếp tục sản xuất.

​Theo phản ánh của các hộ dân sống gần khu vực mỏ, trước khi mới đi vào hoạt động, tình trạng nổ mìn phá đá phục vụ khai thác trên núi thường xuyên gây ra lực rung chấn mạnh tới hệ thống nhà cửa phía dưới của người dân. Đến nay, tuy không còn cảm nhận được dư chấn do nổ mìn, nhưng người dân lại phải đối mặt với nguy cơ đá văng và sạt lở bởi bãi thải đá của công ty “treo” trên đầu.

Bà Đặng Thị H., một người dân có nhà nằm sát khu vực bãi đá thải của công ty cho biết, diện tích cây trồng của gia đình bà gần như phải bỏ trống nhiều năm nay vì đất đá từ trên cao liên tục trôi trượt xuống. Bên cạnh việc mất đất canh tác, nguồn nước dùng trong sinh hoạt của gia đình cũng xuất hiện dấu hiệu suy giảm chất lượng nghiêm trọng, không thể sử dụng trực tiếp. Mỗi khi thời tiết chuyển mùa hoặc xuất hiện các đợt mưa lớn kéo dài, nỗi lo về nguy cơ bãi đá thải đổ sụp xuống khu dân cư lại hiện hữu, gây ảnh hưởng nặng nề đến tâm lý và đời sống của gia đình.

 Đất đá từ khu vực bãi thải trôi trượt xuống phía dưới, khiến một số diện tích đất canh tác của người dân phải bỏ hoang.

Đất đá từ khu vực bãi thải trôi trượt xuống phía dưới, khiến một số diện tích đất canh tác của người dân phải bỏ hoang.

​Cùng chung nỗi niềm lo lắng, ông T., một cư dân tại tổ 5, phường Nông Tiến chia sẻ rằng, suốt chặng đường gần một thập kỷ kể từ khi mỏ đi vào vận hành là chừng ấy thời gian dân cư nơi đây đối mặt với sự bất an. Do lo ngại vấn đề an toàn, một số hộ gia đình có điều kiện đã phải chủ động di dời đi nơi khác. Trong khi đó, những hộ còn lại vẫn phải bám trụ và sinh sống trong tình trạng thấp thỏm.

Người dân bày tỏ mong muốn doanh nghiệp và các cơ quan chức năng sớm có giải pháp gia cố, xử lý dứt điểm bãi đá thải này nhằm loại bỏ triệt để nguy cơ sạt lở, bởi nếu xảy ra sự cố trong mùa mưa lũ, hậu quả đối với người và tài sản bên dưới là khó lường. Mặc dù người dân đã nhiều lần kiến nghị tới cấp có thẩm quyền và phía doanh nghiệp để tìm hướng khắc phục, song đến nay những tồn tại này vẫn chưa được giải quyết triệt để.

Hệ sinh thái bị xâm hại và nguy cơ ô nhiễm nguồn nước

​Không chỉ dừng lại ở nguy cơ mất an toàn địa chất, khảo sát thực tế dọc theo tuyến đường dẫn vào khu vực khai thác chì - kẽm Núi Dùm. Phóng viên còn ghi nhận những dấu hiệu xâm hại nghiêm trọng đối với cảnh quan và hệ sinh thái tự nhiên. Ngay phía dưới khu vực các công trình phụ trợ của mỏ, một khối lượng đá thải rất lớn thay vì được thu gom, lưu giữ hay che chắn đúng quy chuẩn kỹ thuật môi trường thì lại bị đổ thải trực tiếp, trượt dài từ đỉnh núi xuống vực sâu.

Đá thải từ hoạt động khai thác khoáng sản tràn xuống sườn núi, vùi lấp một phần diện tích cây rừng tự nhiên tại Núi Dùm.

Đá thải từ hoạt động khai thác khoáng sản tràn xuống sườn núi, vùi lấp một phần diện tích cây rừng tự nhiên tại Núi Dùm.

Triền đá thải xám xịt kéo dài đã vùi lấp nhiều diện tích cây rừng tự nhiên, tạo nên những vệt sẹo kéo dài trên vách núi. Việc trút đá thải thô chưa qua xử lý ra môi trường tự nhiên không chỉ làm suy giảm mảng xanh của rừng già mà còn làm gia tăng nguy cơ lũ ống, lũ quét và sạt lở đất khi mưa bão tràn về.

​Cách vị trí khai thác khoảng 1 km về phía chân núi, Công ty CP Tây Đô tập kết một khối lượng lớn đuôi quặng thải. Quan sát từ xa, bãi quặng thải này đã tích tụ cao như một ngọn đồi nhỏ với ngổn ngang đá xám, đất cát và các thiết bị cơ giới hoạt động. Đáng chú ý, ngay tại vị trí mỏm đất thuộc bãi tập kết còn xuất hiện nhiều thùng phuy chứa dầu máy đã qua sử dụng và chất thải hóa chất được xếp đặt chưa cẩn trọng, dấy lên nghi ngại về khả năng rò rỉ chất độc hại ra môi trường đất và nước xung quanh.

​Yếu tố đáng báo động nhất nằm ở chỗ, toàn bộ khu vực tập kết đuôi quặng và chất thải dầu mỡ này lại nằm ngay sát vị trí đầu nguồn của khe suối tự nhiên. Đây vốn là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cũng như nước tưới tiêu sản xuất chính cho hàng chục hộ dân ở hạ lưu. Mỗi khi có mưa lớn, dòng nước tràn qua diện tích bãi thải có nguy cơ cuốn theo bùn khoáng chứa vi lượng chì, kẽm cùng dầu mỡ công nghiệp chảy thẳng xuống lòng suối, đe dọa trực tiếp đến chất lượng môi trường sống và sức khỏe lâu dài của cộng đồng cư dân khu vực hạ nguồn.

Liên quan đến những phản ánh và thực trạng nêu trên, phóng viên đã có cuộc trao đổi làm việc với đại diện lãnh đạo UBND phường Nông Tiến. Đơn vị chính quyền địa phương xác nhận đã nắm được những tâm tư, kiến nghị của người dân xung quanh hoạt động của mỏ quặng chì - kẽm và cho biết đang phối hợp với các cơ quan chuyên môn để kiểm tra, rà soát lại toàn bộ hiện trạng.

​Như vậy có thể thấy, thực trạng khai thác khoáng sản và công tác quản lý bãi đá thải tại mỏ chì - kẽm Nông Tiến - Núi Dùm của Công ty CP Tây Đô đang đặt ra bài toán cấp bách về công tác bảo vệ môi trường cũng như an toàn dân sinh. Việc bãi thải phình to áp sát khu dân cư, nguy cơ ô nhiễm nguồn nước đầu nguồn cùng những tác động tiêu cực tới hệ sinh thái Núi Dùm đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ từ phía doanh nghiệp lẫn các cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.

Bãi tập kết đuôi quặng của Công ty CP Tây Đô nằm gần đầu nguồn khe suối, nơi cung cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu cho người dân khu vực hạ lưu.

Để khắc phục tình trạng này, phía doanh nghiệp cần khẩn trương rà soát, củng cố lại toàn bộ quy trình quản lý chất thải; đầu tư hệ thống kè chống sạt lở, thu gom đuôi quặng đúng quy chuẩn kỹ thuật và có phương án xử lý triệt để nguồn nước thải phát sinh. Đồng thời, các cơ quan chức năng tỉnh Tuyên Quang cần tăng cường công tác thanh tra, giám sát định kỳ đối với việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường và an toàn lao động tại mỏ.

​Việc hài hòa giữa phát triển kinh tế khoáng sản và bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân phải luôn là nguyên tắc tối thượng. Chỉ khi những rủi ro về sạt lở và ô nhiễm được giải quyết tận gốc, sự bình yên vốn có của người dân dưới chân Núi Dùm mới thực sự được trả lại./.

Theo tìm hiểu, Công ty CP Đầu tư XNK Tây Đô được Bộ TNMT cấp phép khai thác chì kẽm bằng phương pháp hầm lò tại mỏ Nông Tiến - Núi Dùm (tỉnh Tuyên Quang) theo giấy phép số 380/GP-BTNMT ngày 12/2/2015 với thời hạn 30 năm. Diện tích khai thác 134,9 ha, trữ lượng hơn 1 triệu tấn. Sản lượng khai thác trung bình gần 40.000 tấn/năm.

PV

Nguồn Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam: https://nongnghiephuuco.vn/bai-da-thai-mo-nui-dum-nguoi-dan-lo-anh-huong-dat-canh-tac-nguon-nuoc-18173.html