Khai mở nguồn lực di sản, kiến tạo kinh tế bền vững - Kỳ 2: Khi tiềm năng di sản chưa chuyển hóa thành giá trị

Sở hữu kho tàng di sản độc bản và cảnh quan kỳ vĩ, Tuyên Quang có lợi thế lớn để phát triển du lịch. Thế nhưng, tiềm năng ấy chưa chuyển hóa tương xứng thành động lực phát triển; lượng khách tăng chưa đi đôi với hiệu quả kinh tế và tính bền vững. Những hạn chế về hạ tầng, quy hoạch, sản phẩm và liên kết chuỗi đang đòi hỏi tỉnh cần nhìn thẳng vào các điểm nghẽn trong công tác quản lý, khai thác giá trị di sản.

Đông khách nhưng ngắn ngày, ít chi tiêu

Khách đông chưa đồng nghĩa với phát triển chiều sâu. Thước đo thành công của du lịch xứ Tuyên phải là thời gian lưu trú, mức chi tiêu và giá trị thực sự đọng lại ở địa phương.

Lưu lượng phương tiện tăng cao trên cung đường đèo Mã Pì Lèng, cho thấy sức hút du lịch đang đặt áp lực lên hạ tầng giao thông vùng Cao nguyên đá Đồng Văn.

Lưu lượng phương tiện tăng cao trên cung đường đèo Mã Pì Lèng, cho thấy sức hút du lịch đang đặt áp lực lên hạ tầng giao thông vùng Cao nguyên đá Đồng Văn.

Giai đoạn 2021 - 2025, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào đón trên 2 triệu lượt khách; riêng dịp Quốc khánh 2/9/2026 thu hút khoảng 30.000 lượt (tăng gấp ba ngày thường). Tuy nhiên, phần lớn khách chỉ lưu trú 4 - 6 giờ, chi tiêu hạn chế do thiếu dịch vụ níu chân. Nghịch lý tương tự diễn ra tại Lễ hội Thành Tuyên 2026 khi tỉnh đón hơn 350.000 lượt khách, doanh thu đạt 322 tỷ đồng, nhưng cơ sở lưu trú vùng trung tâm (trên 2.000 phòng, sức chứa 3.200 khách) quá tải cục bộ. Các hoạt động diễn diễu, ẩm thực, OCOP diễn ra ngắn ngày, trong khi trải nghiệm sau đêm hội và tour tuyến kết nối còn rất nghèo nàn.

Tại phường Hà Giang 1 - cửa ngõ Cao nguyên đá Đồng Văn, 9 tháng năm 2026 đón trên 867.000 lượt khách. Hệ thống dịch vụ gồm 98 cơ sở lưu trú (1.184 phòng, 2.266 giường), 39 điểm cho thuê xe máy (khoảng 1.100 xe), 19 công ty lữ hành và 220 cơ sở ăn uống; song chỉ có 10/35 khách sạn được xếp hạng sao.

Nhìn tổng thể, quy mô du lịch toàn tỉnh không ngừng mở rộng: Năm 2025 đón hơn 3,92 triệu lượt khách, tổng thu đạt 10.633 tỷ đồng; 9 tháng năm 2026 đón trên 3,24 triệu lượt (567.443 lượt khách quốc tế), tổng thu ước đạt gần 9.000 tỷ đồng. Thế nhưng, lượng khách lớn vẫn chưa đi đôi với giá trị lan tỏa sâu rộng. Khách quốc tế tập trung chủ yếu ở Đồng Văn và Tân Trào; thời gian lưu trú bình quân chỉ đạt 2,5 ngày với khách quốc tế và 1,8 ngày với khách nội địa. Cấu trúc chi tiêu chủ yếu xoay quanh lưu trú cơ bản, ăn uống, vé tham quan và vận chuyển, trong khi mua sắm, quà lưu niệm và giải trí bổ trợ chưa tạo được sức hút tương xứng.

Sức hút tăng, sức tải quá ngưỡng

Dòng khách tăng nhanh đang thử thách sức tải hạ tầng và công tác bảo vệ không gian di sản. Năng lực phục vụ và quản lý nếu không theo kịp sẽ làm suy giảm trải nghiệm du khách và bào mòn giá trị điểm đến.

Toàn tỉnh hiện có 1.500 cơ sở lưu trú với 41.666 buồng, nhưng khách sạn tiêu chuẩn chỉ chiếm 11%, còn lại chủ yếu là homestay và nhà nghỉ nhỏ, dẫn đến thiếu hụt dịch vụ chất lượng cao dịp cao điểm.

Quay trở lại với câu chuyện của Làng Lô Lô Chải - Làng du lịch tốt nhất thế giới cũng bộc lộ những bất cập. Sự ghi nhận của UN Tourism đưa Lô Lô Chải đến gần hơn với công chúng quốc tế, đồng thời mở ra cơ hội kết nối thị trường, thu hút khách và nâng cao vị thế của du lịch Tuyên Quang. Nhưng danh hiệu cũng đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với quản lý điểm đến. Đồng chí Trần Đức Chung, Chủ tịch UBND xã Lũng Cú cho biết, địa phương có hơn 1.000 phòng lưu trú nhưng đều kín khách trước khai mạc Lễ hội Hoa Tam giác mạch 2026. Sức ép này làm bộc lộ nhiều khoảng trống quản lý: Kiểm tra 86 cơ sở dịch vụ, lực lượng chức năng buộc dừng 6 cơ sở không đủ điều kiện và đình chỉ 5 công trình vi phạm, trong đó một công trình thi công sai phép tại Lô Lô Chải bị xử phạt hơn 110 triệu đồng.

Đáng ngại hơn, trong 20 hộ được cấp phép xây dựng năm 2026 tại Lũng Cú, chỉ có 3 hộ làm nhà trình tường, lợp ngói âm dương; số còn lại dựng nhà bê tông hoặc giả trình tường. Nhằm bảo vệ cảnh quan, UBND xã đã tạm dừng thi công từ ngày 22/10/2026 đến 28/2/2027 (kể cả công trình đã cấp phép) - một quyết định phản ánh bài toán cấp thiết: Phát triển kinh tế nhưng không làm phai mờ diện mạo di sản.

Năm 2025, xã Du Già đón trên 91.000 lượt khách (quốc tế chiếm hơn 90%), doanh thu đạt trên 27,3 tỷ đồng; trong đó danh thắng Thác Ba Tiên là điểm thu hút chính. Tuy nhiên, đợt khảo sát của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho thấy nơi đây đang đối mặt với nhiều nguy cơ mất an toàn và thiếu hụt hạ tầng vận hành.

Sức ép du khách còn thử thách gay gắt hạ tầng kết nối. Đường lên Cao nguyên đá Đồng Văn nhiều đoạn chỉ rộng 5,5 - 7,5 m và thiếu bãi đỗ xe, gây nguy cơ ùn tắc cục bộ khi xe cá nhân tăng đột biến. Anh Ngô Xuân Hiếu, chủ quán Cà phê Tam giác mạch tại dốc Thẩm Mã, xã Phố Bảng chia sẻ: “Có thời điểm khu vực này đón tới 5.000 lượt khách/ngày, gấp 10 lần ngày thường”.

Khách du lịch phượt chiếm khoảng 70 - 80% lượng khách đến Cao nguyên đá Đồng Văn, song mức chi tiêu cho sản vật và các dịch vụ bổ trợ còn hạn chế.

Khách du lịch phượt chiếm khoảng 70 - 80% lượng khách đến Cao nguyên đá Đồng Văn, song mức chi tiêu cho sản vật và các dịch vụ bổ trợ còn hạn chế.

Dòng tiền chưa chảy sâu vào bản

Khoảng cách giữa sức hút du lịch và khả năng tạo giá trị tại chỗ thể hiện qua các số liệu tăng trưởng: 9 tháng năm 2026, khu vực dịch vụ của tỉnh tăng 8,55%, nhưng lưu trú và ăn uống chỉ tăng 5,07% (thấp hơn kịch bản 6,69 điểm phần trăm). Tại xã Lũng Cú, năm 2025 đón trên 427.000 lượt khách (doanh thu gần 200 tỷ đồng); 9 tháng năm 2026 vượt 452.000 lượt (doanh thu hơn 233,5 tỷ đồng). Dù vậy, toàn xã vẫn còn 1.208/2.850 hộ nghèo và cận nghèo (chiếm 42,4%), thu nhập bình quân đầu người khiêm tốn ở mức 28 triệu đồng/năm.

Nghịch lý còn nằm ở cấu trúc chi tiêu. Theo đồng chí Lại Quốc Tĩnh, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch tỉnh, khách phượt chiếm 70 - 80%, chủ yếu thuê xe máy đi Hà Giang Loop và ở homestay; chi tiêu cho ẩm thực, sản vật, quà lưu niệm rất hạn chế. Dòng tiền vì thế chỉ tập trung vào dịch vụ thiết yếu, chưa lan tỏa tới sản xuất, kinh doanh của người dân bản địa.

Ngay cả lĩnh vực ẩm thực, chi tiêu của du khách vẫn bị “chảy” ra ngoài do nguồn cung tại chỗ đứt gãy. Tại homestay Aladdin (thôn Má Pắng, xã Đồng Văn), anh Đinh Đức Thuận thường phải nhập gà đen từ nơi khác vào mùa cao điểm. Đầu năm 2025, anh quy hoạch 3 ha nuôi 500 con gà để chủ động nguồn cung, song nỗ lực đơn lẻ khó giải quyết bài toán liên kết tổng thể. Anh Thuận trăn trở: “Khi nguồn cung tại chỗ chỉ đáp ứng được 30%, chúng tôi buộc phải nhập hàng từ nơi khác, khiến tiền chi tiêu của khách không đến được với người dân trong bản”.

Thực tế này phản ánh sự thiếu kết nối giữa du lịch và sản xuất bản địa. Dù Tuyên Quang sở hữu trên 420 sản phẩm OCOP, nhưng nhiều mặt hàng quy mô nhỏ lẻ, nguồn cung thiếu ổn định, chưa đáp ứng nhu cầu của các cơ sở du lịch và thị trường.

Thiếu sản phẩm mang dấu ấn xứ Tuyên

Tuyên Quang sở hữu “kho báu” di sản đồ sộ với 794 di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, 871 di sản văn hóa phi vật thể và 72 làng văn hóa du lịch cộng đồng. Thế nhưng, sản phẩm lưu niệm - “đại sứ thương hiệu” của điểm đến vẫn trong tình trạng vừa thiếu, vừa yếu, chưa tạo được dấu ấn riêng.

Tại các điểm đến nổi tiếng như Cột cờ Quốc gia Lũng Cú, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Tân Trào, hẻm vực Tu Sản hay Làng du lịch tốt nhất thế giới Lô Lô Chải, du khách dễ dàng lưu lại bức ảnh đẹp nhưng khó tìm một món quà lưu niệm đậm chất bản địa.

Nghịch lý là địa phương không thiếu tay nghề lẫn ý tưởng. Tỉnh từng tổ chức cuộc thi thiết kế quà tặng du lịch, thu hút 75 tác phẩm và trao 16 giải. Tuy nhiên, khoảng cách từ bản vẽ đến sản phẩm thương mại bày bán ổn định tại điểm đến vẫn còn xa. Mẫu mã đoạt giải chưa chuyển hóa thành nguồn cung đại trà đủ sức làm du khách “móc ví”.

Đồng chí Ly Ngọc Long, Phó Chủ tịch UBND xã Sà Phìn cho biết: Dù hạ tầng sản xuất thủ công đã hình thành nhưng quy mô còn manh mún. Hợp tác xã Lanh Trắng (thôn Lũng Cẩm) và các nghệ nhân chế tác bạc, đồng (thôn Lao Xa) tạo ra doanh thu khoảng 180 triệu đồng/tháng (với 450 sản phẩm thổ cẩm và 600 sản phẩm kim khí), song phần lớn chỉ làm theo đơn đặt hàng chứ chưa cung ứng đại trà.

Trang phục truyền thống vừa tạo trải nghiệm tại chỗ, vừa có thể trở thành món quà lưu niệm; song bản sắc ấy cần được gìn giữ ngay từ dịch vụ cho thuê. Năm 2023, tại bến thuyền Nho Quế 1 (xã Mèo Vạc), cả 4 hộ kinh doanh đều cho thuê trang phục Mông Cổ, Tây Tạng, Thái Lan, Lào (giá 100.000 đồng/bộ). Sau phản ánh của báo chí, các hộ đã cam kết chuyển sang trang phục dân tộc địa phương. Bài học này cho thấy: Từ bộ đồ du khách mặc chụp ảnh đến món quà họ mua về, tất cả đều phải kể đúng câu chuyện văn hóa của điểm đến.

Những mắt xích chưa thông

Nghịch lý về khách lưu trú ngắn, dòng tiền chưa chảy sâu về bản và sức ép lên điểm đến bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ ở nhiều mắt xích: Từ quy hoạch, vận hành du lịch cộng đồng đến việc tiếp cận nguồn lực và chất lượng nhân lực.

Vướng mắc pháp lý xuất hiện ngay từ khâu chuẩn bị dự án. Điển hình là dự án nghỉ dưỡng sinh thái LAYA (thôn Xà Phìn, xã Thanh Thủy) do kiến trúc sư Nguyễn Trọng Khải ấp ủ từ cuối năm 2025. Dự án dự kiến sử dụng hơn 1 ha trong tổng số gần 4 ha để tôn vinh văn hóa người Dao dưới chân núi Tây Côn Lĩnh, song đang chững lại do vướng quy hoạch, chuyển đổi mục đích sử dụng đất và chồng lấn quy hoạch rừng.

Hạn chế cũng bộc lộ ngay tại các mô hình đã vận hành. Từ đầu năm 2026 đến nay, Làng du lịch cộng đồng dân tộc Mông Pả Vi (xã Mèo Vạc) đón trên 60.000 lượt khách, doanh thu hơn 5 tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng 60 lao động địa phương. Dù vậy, đồng chí Phạm Văn Tú, Bí thư Đảng ủy xã thẳng thắn nhìn nhận: Một số hộ chưa chú trọng bảo trì cơ sở, khuôn viên thiếu chỉnh trang và bản sắc văn hóa Mông chưa hiện diện rõ nét.

Chất lượng nhân lực chưa theo kịp tốc độ phát triển. Toàn tỉnh hiện có khoảng 27.000 lao động liên quan đến du lịch (8.835 người qua đào tạo/bồi dưỡng, 3.050 người được đào tạo lại), nhưng tỷ lệ sở hữu văn bằng chuyên môn hoặc nghiệp vụ bài bản chỉ chiếm khoảng 10%. Trong 331 hướng dẫn viên (41 quốc tế, 108 nội địa, 182 tại điểm), kỹ năng nghề, ngoại ngữ và năng lực phục vụ dòng khách cao cấp vẫn là “khoảng trống” lớn.

Trong Đề án phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, UBND tỉnh nhìn nhận thẳng thắn: Thương hiệu du lịch phân tán, chưa định hình rõ giá trị khác biệt; liên kết không gian - sản phẩm - thị trường sau sáp nhập chưa chặt chẽ; nguồn lực đầu tư và quản lý phân tán; các sản phẩm du lịch còn trùng lặp, thiếu sức cạnh tranh, chưa hình thành được sản phẩm chủ lực mang thương hiệu quốc gia. Tình trạng xây dựng tự phát tại các điểm quá tải mùa cao điểm tiếp tục gia tăng sức ép lên cảnh quan, di sản.

Đồng chí Nguyễn Hồng Hải, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam, nhận định nguyên nhân của những điểm nghẽn trên không chỉ nằm ở hạn chế về nguồn lực, mà còn ở tư duy phát triển và năng lực tổ chức thực hiện chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn. Công tác quy hoạch, quản lý không gian di sản có nơi chưa đồng bộ, thiếu dự báo về sức tải và nhu cầu phát triển; sự phối hợp giữa các ngành, địa phương trong kết nối tài nguyên, sản phẩm và thị trường chưa chặt chẽ. Việc cụ thể hóa chủ trương thành các chương trình, dự án có tính dẫn dắt còn chậm; những vướng mắc về đất đai, đầu tư và quy hoạch chưa được tháo gỡ kịp thời. Ở một số nơi, tư duy phát triển vẫn thiên về thu hút khách, tổ chức sự kiện, chưa chú trọng đúng mức đến chất lượng trải nghiệm và giá trị kinh tế giữ lại tại địa phương. Liên kết giữa doanh nghiệp du lịch với người dân, hợp tác xã và các cơ sở OCOP còn lỏng lẻo; công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ cảnh quan chưa theo kịp áp lực phát triển. Cùng với đó, nhân lực quản lý và lao động du lịch còn thiếu về chuyên môn, kỹ năng. Thực tế đặt ra yêu cầu nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, đổi mới phương thức quản lý, tăng cường phối hợp và phát huy vai trò chủ thể của người dân, để di sản thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển bền vững.

Thu hẹp khoảng cách giữa “kho báu” di sản và năng lực khai thác thực tế là bài toán chiến lược đòi hỏi tư duy đổi mới của cả hệ thống chính trị. Bởi suy cho cùng, thước đo phát triển du lịch bền vững không dừng lại ở những con số du khách nườm nượp ghé thăm, mà phải bằng giá trị kinh tế thực chất giữ lại, bằng sự ấm no, thịnh vượng của chính những chủ thể văn hóa đang ngày đêm gìn giữ di sản xứ Tuyên.

Bài, ảnh: Hoài Yên, Chúc Huyền, Biện Luân, Thu Phương, Giang Lam, Hoàng Hà

(còn nữa)

Kỳ 1: Dải di sản độc bản, vốn quý của xứ Tuyên

Nguồn Tuyên Quang: http://baotuyenquang.com.vn/van-hoa/202610/khai-mo-nguon-luc-di-san-kien-tao-kinh-te-ben-vung-ky-2-khi-tiem-nang-di-san-chua-chuyen-hoa-thanh-gia-tri-bec39d3/