Bài toán đặt ra cho ngành lúa gạo vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long: Người nông dân còn giữ lại được bao nhiêu giá trị sau mỗi mùa gặt?
Hơn 1,5 triệu héc-ta lúa Hè Thu được gieo sạ ở Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), tạo ra hàng triệu tấn lúa hàng hóa. Nhưng với không ít nông dân, niềm vui sau mùa gặt lại không nằm ở số lúa thu được, mà là khoản tiền còn lại sau khi trả hết chi phí. Điều này đang đặt ra bài toán lớn cho ngành lúa gạo vùng châu thổ Cửu Long.
Làm ra nhiều, lời chẳng bao nhiêu
Vụ Hè Thu 2026, ĐBSCL gieo sạ hơn 1,5 triệu héc-ta lúa, sản lượng ước tính trên 8,9 triệu tấn, tiếp tục khẳng định vị trí vùng sản xuất (SX) lúa lớn của cả nước, nhưng thực tế cho thấy những con số về diện tích và sản lượng chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả mà người trồng lúa nhận được. Sau mỗi mùa gặt, nông dân phải lấy tiền bán lúa trừ đi hàng loạt khoản chi phí đã bỏ ra từ đầu vụ. Khi phần tiền còn lại quá ít, sản lượng cao chưa đồng nghĩa với lợi nhuận cao.
Bà Trần Thị Kiều Nhi (xã Tri Tôn, tỉnh An Giang) cho biết, giá lúa Hè Thu cuối vụ đang tạo thêm sức ép cho người SX. Giữa tháng 9/2026, giá lúa tươi tại ruộng đối với Đài Thơm 8 và OM18 phổ biến từ 6.200 - 6.400 đồng/kg, OM5451 từ 5.800 - 6.000 đồng/kg, Nàng Hoa 9 từ 6.000 - 6.200 đồng/kg, trong khi mặt bằng giá lúa tươi đã giảm khoảng 500 - 1.000 đồng/kg so với đầu vụ. Thị trường thu mua tại một số địa phương cũng diễn ra chậm khi nhu cầu của kho và thương lái giảm vào cuối vụ.
Trong khi giá bán chịu sức ép, chi phí SX lại tăng ở nhiều khâu. Giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), nhiên liệu bơm tưới, máy cắt và máy gặt đập liên hợp đều trở thành những khoản chi mà người nông dân phải tính toán kỹ hơn trước khi xuống giống. Thời tiết vụ Hè Thu cũng làm phát sinh thêm chi phí bơm thoát nước, sấy lúa và nguy cơ ảnh hưởng chất lượng hạt. Khi thời điểm thu hoạch rộ trùng với lúc giá thu mua giảm, phần lợi nhuận vốn đã mỏng càng bị thu hẹp.

Giá lúa thấp, lợi nhuận của người nông dân không đáng kể
Tại Cần Thơ, ông Nguyễn Văn Tuấn, nông dân trồng 5 ha lúa, đang chịu sức ép từ chi phí SX ngày càng tăng. Ông Tuấn cho biết những khoản chi phát sinh từ khâu thu hoạch đến vận chuyển tiếp tục làm tăng giá thành SX khiến phần lợi nhuận của người trồng lúa bị thu hẹp. Thực tế này cho thấy hiệu quả 1 vụ lúa không chỉ phụ thuộc vào giá bán, mà còn được quyết định bởi tổng chi phí tạo ra và đưa hạt lúa từ ruộng đến nơi tiêu thụ.
Áp lực chi phí còn thể hiện ngay từ khâu mua giống. Giá lúa thương phẩm trên thị trường thấp, một bộ phận nông dân ĐBSCL đã sử dụng lúa hàng hóa, còn gọi là lúa thịt, để làm giống nhằm giảm khoản tiền phải bỏ ra đầu vụ. Việc tiết giảm chi phí theo cách này phản ánh tâm lý "thắt lưng buộc bụng" của người trồng lúa khi giá vật tư tăng nhưng đầu ra chưa tạo được mức lợi nhuận tương xứng. Tuy nhiên, việc sử dụng nguồn giống không qua quy trình kiểm định cũng đặt ra yêu cầu phải cân nhắc giữa khoản tiết kiệm trước mắt và hiệu quả của cả vụ.
Ông Trần Văn Phúc (xã Châu Phong, tỉnh An Giang), nông dân có nhiều năm kinh nghiệm SX lúa, cũng bày tỏ lo ngại về sự ổn định của thị trường. Theo ông, khi lợi nhuận bị thu hẹp, người nông dân sẽ phải cân nhắc từng khoản đầu tư cho vụ SX tiếp theo. Từ đó, áp lực của giá lúa không chỉ tác động đến thu nhập hiện tại mà còn ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nông dân trong những vụ sau.
Người nông dân bỏ tiền mua giống, phân bón, thuốc BVTV, nhiên liệu và thuê máy móc từ đầu vụ, nhận lại tiền bán lúa vào cuối vụ và điều đáng nói là nếu khoản tiền nhận về chủ yếu dùng để thanh toán những khoản đã chi, người SX rất khó tích lũy để tái đầu tư, nâng chất lượng SX. Bài toán lớn của ĐBSCL không chỉ là làm ra bao nhiêu tấn lúa, mà còn là giữ lại bao nhiêu giá trị sau mỗi mùa gặt.
Đổi cách làm, thêm giá trị
Muốn cải thiện lợi nhuận, SX lúa ĐBSCL cần chuyển từ chạy theo sản lượng sang tính hiệu quả trên từng héc-ta. Người trồng lúa không chỉ tính năng suất mà phải biết mỗi vụ đã bỏ bao nhiêu tiền cho giống, phân bón, thuốc BVTV, nước tưới và nhân công, giảm được những chi phí không cần thiết trong khi vẫn giữ năng suất, chất lượng chính là giá trị hướng đến.
Một trong những khoản có thể giảm là lượng giống gieo sạ. Tại một số địa phương, nông dân vẫn gieo 120 -150 kg/ha, trong khi ngành Nông nghiệp khuyến khích giảm còn 80 - 100 kg/ha. Sạ hàng, sạ cụm hoặc sử dụng thiết bị hiện đại giúp kiểm soát mật độ, giảm lượng giống và áp lực sâu bệnh, từ đó giảm thêm chi phí thuốc BVTV. Tương tự, quản lý dinh dưỡng theo nhu cầu cây lúa giúp hạn chế bón dư thừa, còn tưới ướt khô xen kẽ có thể giảm số lần bơm nước và nhiên liệu. Khi giảm được một khoản chi mà năng suất, chất lượng vẫn bảo đảm, phần tiết kiệm sẽ trở thành lợi nhuận của người trồng lúa.
Tại xã Châu Phong, tỉnh An Giang, cách làm này được cụ thể hóa bằng mô hình tại Hợp tác xã (HTX) Nông nghiệp Tường Lợi với diện tích 48 ha trong vụ Đông Xuân 2025-2026. Theo ông Tống Văn Điều - Phó Chủ tịch UBND xã Châu Phong, tham gia Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp là cơ hội để địa phương chuyển từ tư duy SX lấy sản lượng làm đầu sang kinh tế nông nghiệp chú trọng tối ưu chi phí, nâng cao chất lượng và lợi nhuận.
Mô hình giảm lượng giống gieo sạ từ 120 kg xuống 80 kg/ha, phân bón từ 480 kg xuống 400 kg/ha; nông dân áp dụng tưới ngập khô xen kẽ, theo dõi mực nước qua ống AWD và trồng hoa trên bờ ruộng để thu hút thiên địch, qua đó giảm áp lực sâu bệnh và số lần phun thuốc BVTV. Hiệu quả được thể hiện rõ qua các chỉ số SX: tổng chi phí giảm từ hơn 28,2 triệu đồng xuống còn hơn 23,2 triệu đồng/ha, năng suất lúa tươi tăng từ 8,423 tấn lên 8,837 tấn/ha, giá thành giảm từ 3.039 đồng xuống 2.400 đồng/kg. Với giá bán 5.900 đồng/kg, lợi nhuận tăng từ khoảng 26,58 triệu đồng lên hơn 33,9 triệu đồng/ha, tăng hơn 7,3 triệu đồng, tương đương 27,5%.

Nông dân An Giang trao đổi kinh nghiệm nhằm giảm chi phí trong sản xuất
Kết quả này cho thấy tăng hiệu quả không nhất thiết phải tăng đầu vào. Vấn đề là tổ chức SX tốt hơn để cùng một diện tích có thể tạo ra nhiều giá trị hơn. Châu Phong đang hướng đến mở rộng vùng lúa chất lượng cao, phát thải thấp; đồng thời đẩy mạnh cơ giới hóa, thiết bị bay không người lái, thu gom rơm rạ, nhật ký điện tử, mã vùng trồng và cơ sở dữ liệu SX.
Ở cấp tỉnh, yêu cầu này được đặt trong quá trình triển khai Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang - Ngô Công Thức nhấn mạnh đề án phải gắn với nâng hiệu quả SX, phát triển kinh tế tập thể và xây dựng liên kết giữa HTX với doanh nghiệp (DN). Theo ông, các địa phương cần triển khai quyết liệt, tranh thủ nguồn lực đầu tư hạ tầng cho HTX và theo dõi sát thị trường để chủ động phương án SX.
Cách tiếp cận này đưa người trồng lúa vào chuỗi liên kết từ SX đến tiêu thụ, thay vì để từng hộ tự xoay xở với chi phí đầu vào - đầu ra. Bởi nếu chỉ giảm chi phí trong từng hộ thì chưa đủ, SX nhỏ lẻ khiến nông dân khó mua vật tư với giá tốt, khó đồng bộ lịch thời vụ và khó chủ động tiêu thụ. Hợp tác xã cần tập hợp nông dân thành vùng nguyên liệu, tổ chức mua vật tư, thống nhất quy trình và kết nối DN. Liên kết cần được hình thành ngay từ đầu vụ, từ lựa chọn giống, quy trình SX, tiêu chuẩn chất lượng đến phương thức thu mua. Khi vùng nguyên liệu được tổ chức ổn định, chi phí trung gian có thể giảm, chất lượng dễ kiểm soát và hạt lúa có cơ hội chuyển từ hàng hóa thông thường sang sản phẩm có giá trị cao hơn.
Giá trị người nông dân thu về cũng không chỉ nằm trong hạt lúa, vì rơm rạ có thể được thu gom để cung cấp cho cơ sở trồng nấm, SX phân hữu cơ hoặc phục vụ chăn nuôi, qua đó tạo thêm nguồn thu. Khi nhìn toàn bộ cánh đồng như một chuỗi giá trị, những phần trước đây bị bỏ lại sau mùa gặt cũng có thể trở thành nguồn thu thực tế.
Thay đổi cách làm còn cần gắn với mùa vụ và cơ cấu SX. Tổ chức lịch xuống giống tập trung, né thời tiết bất lợi và hạn chế thu hoạch vào giai đoạn mưa dầm có thể giảm chi phí sấy, hao hụt sau thu hoạch. Với những vùng SX lúa Hè Thu kém hiệu quả có thể tính đến mô hình lúa - màu, lúa - thủy sản hoặc phương thức phù hợp điều kiện tự nhiên.
Thị trường cũng đòi hỏi hạt gạo ĐBSCL phải được nâng giá trị. Gạo Việt Nam đã từng bước mở rộng sang nhiều thị trường, trong đó có những phân khúc yêu cầu cao về chất lượng. Nếu vùng nguyên liệu được tổ chức tốt, chất lượng được kiểm soát và DN xây dựng được thị trường ổn định, người nông dân sẽ có thêm cơ hội bán giá trị của hạt gạo thay vì chỉ bán nguyên liệu.
Cuối vụ Hè Thu, hơn 1,5 triệu héc-ta lúa ĐBSCL khép lại một mùa SX với hàng triệu tấn lúa được đưa ra thị trường. Nhưng thước đo cuối cùng của một vụ mùa không chỉ nằm ở những con số về diện tích hay sản lượng, mà ở phần giá trị người nông dân còn giữ lại sau khi đã trả hết chi phí. Một héc-ta ruộng giảm được lượng giống, phân bón, thuốc BVTV, nước tưới mà vẫn giữ năng suất, chất lượng, đó là 1 héc-ta đã tạo thêm giá trị.
Giá trị ấy sẽ còn lớn hơn khi hạt lúa được làm ra trong những vùng nguyên liệu có liên kết, đáp ứng yêu cầu thị trường; còn rơm rạ được thu gom, tái sử dụng thay vì bỏ lại trên đồng. Khi đó, khoản tiền thu về sau mùa gặt không còn chỉ quay về trả những khoản đã bỏ ra từ đầu vụ, mà bắt đầu có phần dành cho tích lũy, tái đầu tư và nâng chất lượng SX. Đó không chỉ là chuyện của một mùa lúa, mà là câu chuyện về người nông dân và cả vùng châu thổ đang học cách làm ra nhiều giá trị hơn trên chính mảnh ruộng của mình.
