Bài toán đồng bộ và hiệu quả đầu tư cho phát triển hạ tầng LNG Việt Nam
Sản lượng khí khai thác trong nước giảm, trong khi nhu cầu LNG nhập khẩu được dự báo tăng mạnh trong giai đoạn tới. Bài toán đặt ra không chỉ là bổ sung nguồn cung, mà còn là phát triển hạ tầng đồng bộ, phù hợp với nhu cầu và hiệu quả của toàn hệ thống.
Hai kho cảng Thị Vải và Cái Mép lần lượt đi vào vận hành, đánh dấu những bước đầu tiên trong quá trình hình thành hạ tầng tiếp nhận LNG nhập khẩu tại Việt Nam. Hoạt động nhập khẩu cũng tăng dần từ năm 2023, trong bối cảnh sản lượng khí khai thác trong nước liên tục suy giảm.
Tuy nhiên, quy mô hạ tầng hiện có còn cách khá xa định hướng phát triển điện khí LNG trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh. Trong khi các dự án kho cảng, đường ống và nhà máy điện cần thời gian dài để triển khai, hiệu quả đầu tư lại phụ thuộc vào khả năng kết nối giữa các khâu và nhu cầu tiêu thụ thực tế.
Đây là bài toán được đặt ra tại hội thảo “Phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách”, diễn ra ngày 5/11 tại Hà Nội, do Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phối hợp với Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam và Tập đoàn Excelerate Energy tổ chức.

Hạ tầng LNG Việt Nam: Từ những kho cảng đầu tiên đến bài toán phát triển đồng bộ. Ảnh: Ngọc Linh
Nguồn khí trong nước suy giảm, nhu cầu LNG nhập khẩu tăng
Nguồn khí thiên nhiên khai thác trong nước đang thu hẹp nhanh. Theo số liệu của Bộ Công Thương do ông Đặng Hải Anh, Phó Cục trưởng Cục Năng lượng - Dầu khí, cung cấp, sản lượng khí giảm từ 7,47 tỷ m3 năm 2023 xuống còn 5,99 tỷ m3 năm 2025. Năm 2026, con số này ước còn 4,56 tỷ m3.
Trong khi đó, khoảng 85% lượng khí khai thác trong nước hiện được sử dụng cho phát điện, 11% cho sản xuất đạm và 4% cho các hộ tiêu thụ khác. Sự suy giảm nguồn cung vì vậy đặt ra yêu cầu bổ sung nhiên liệu cho những ngành đang phụ thuộc vào khí.
Trong bối cảnh đó, LNG nhập khẩu đang từng bước đảm nhận vai trò này. Việt Nam hiện có hai kho cảng LNG là Thị Vải và Cái Mép, lần lượt đi vào vận hành tháng 10/2023 và tháng 8/2025. Hai kho có tổng sức chứa 400.000 m3, công suất tái hóa khí cộng gộp 21,5 triệu m3/ngày. Bộ Công Thương đang chỉ đạo triển khai đấu nối kỹ thuật giữa hai hệ thống cảng nhằm tăng khả năng cung ứng.
Quy mô nhập khẩu cũng tăng nhanh trong những năm gần đây. Lượng LNG nhập khẩu từ mức 83,6 triệu m3 năm 2023 đã tăng lên 543,9 triệu m3 năm 2025; năm 2026 dự kiến đạt khoảng 1 tỷ m3.
Theo Quyết định số 363/QĐ-BCT ngày 28/2/2026, nhu cầu nhập khẩu tiếp tục tăng trong những năm tới, nhưng không duy trì ở mức cao trong toàn bộ kỳ quy hoạch. Ở kịch bản cơ sở, lượng LNG nhập khẩu dự kiến đạt 9,4 tỷ m3 năm 2030, lên 16,1 tỷ m3 năm 2040 rồi giảm còn 3,5 tỷ m3 năm 2050. Kịch bản cao đưa ra các mức tương ứng là 9,9 tỷ m3, 27,5 tỷ m3 và 3,5 tỷ m3.
Cả hai kịch bản trong báo cáo của ông Đặng Hải Anh đều dự báo nhu cầu LNG nhập khẩu đạt đỉnh vào năm 2040, sau đó giảm mạnh về cuối kỳ. Diễn biến này đặt ra yêu cầu cân nhắc thận trọng quy mô và thời điểm đầu tư kho cảng, đường ống, thay vì chỉ căn cứ vào nhu cầu tăng trong giai đoạn trước mắt.
Kho cảng, đường ống và nhà máy điện phải đi cùng nhau

Toàn cảnh hội thảo “Phát triển hạ tầng LNG tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách” ngày 5/11/2026. Ảnh: Ngọc Linh
Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đặt mục tiêu phát triển khoảng 22.524 MW nhiệt điện LNG đến năm 2030. Tuy nhiên, đến nay mới có cụm nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và 4, tổng công suất 1.624 MW, đi vào vận hành; nhà máy điện LNG Hiệp Phước giai đoạn 1, công suất 1.200 MW, đang xây dựng. Các dự án còn lại, đặc biệt tại miền Bắc, chưa khởi công.
Khoảng cách giữa mục tiêu quy hoạch và tiến độ triển khai cho thấy phát triển LNG không chỉ là câu chuyện xây dựng nhà máy điện. Chuỗi hạ tầng phải bao gồm nguồn nhập khẩu, cảng tiếp nhận, kho chứa, tái hóa khí, đường ống, nhà máy điện và lưới truyền tải. Một khâu chậm tiến độ có thể ảnh hưởng đến khả năng vận hành của toàn bộ chuỗi.
Ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, lưu ý LNG cần được nhìn nhận trong tổng thể bài toán bảo đảm an ninh năng lượng, không phải lời giải duy nhất cho quá trình chuyển dịch năng lượng. Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tăng cùng công nghiệp hóa, đô thị hóa và phát triển các ngành công nghệ cao, lựa chọn nguồn cung cần cân bằng giữa an ninh năng lượng, hiệu quả kinh tế và khả năng chi trả.
“Điều quan trọng không phải là phát triển LNG với quy mô lớn nhất, mà là phát triển đúng quy mô và đúng thời điểm, đúng vị trí và đúng cơ chế, gắn với một hệ thống năng lượng an toàn, hiệu quả và chuyển dịch”, ông Cương nhấn mạnh.
Để phát huy hiệu quả, hạ tầng LNG cần được tổ chức theo hướng kết nối từ khâu nhập khẩu, tồn trữ, tái hóa khí đến vận chuyển và phân phối. Định hướng phát triển các kho trung tâm, ưu tiên hạ tầng dùng chung và tăng cường liên kết vùng nhằm phục vụ nhiều nhà máy điện, khu công nghiệp và hộ tiêu thụ.
Tại những nơi chưa có điều kiện hình thành kho trung tâm, kho riêng gắn với nhà máy điện vẫn có thể được xem xét, dù chi phí cao hơn.
Báo cáo của ông Hải Anh cũng xác định các khu vực tiềm năng phát triển hạ tầng LNG theo từng giai đoạn, trong đó có Hải Phòng, Bắc Trung Bộ, Sơn Mỹ, Thị Vải, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Đây là định hướng phân bố hạ tầng, không đồng nghĩa các dự án tại những khu vực này đã được triển khai.
Cùng với kho cảng, việc kết nối đường ống, liên kết vùng và đa dạng hóa thị trường tiêu thụ cần được tính toán trên hiệu quả của toàn chuỗi. Về tổ chức thực hiện, Quyết định số 2634/QĐ-TTg ngày 2/12/2025 đã đưa 7 dự án kho LNG và 7 dự án chuỗi khí - điện vào danh mục công trình quan trọng quốc gia, công trình trọng điểm ngành năng lượng.
Cơ chế thị trường quyết định hiệu quả đầu tư
Hạ tầng LNG chỉ có thể vận hành hiệu quả khi các mắt xích được kết nối bằng cơ chế thương mại đủ rõ. Kho cảng cần nguồn hàng và khách hàng; nhà máy điện cần nhiên liệu với chi phí phù hợp; nhà đầu tư cần khả năng thu hồi vốn trong dài hạn.

Ông Nguyễn Văn Phương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương. Ảnh: Ngọc Linh
Đây là những thách thức được ông Nguyễn Văn Phương, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, đặt ra khi đề cập đến yêu cầu phát triển LNG, bao gồm: (i) bảo đảm đồng bộ toàn chuỗi giá trị từ nhập khẩu, tồn trữ, tái hóa khí đến phát điện và truyền tải; (ii) hình thành thị trường tiêu thụ đủ lớn, ổn định và có khả năng thanh toán, tránh các cam kết bao tiêu thiếu linh hoạt làm chuyển rủi ro sang bên mua điện và người tiêu dùng; (iii) cân bằng giữa an ninh cung ứng, hiệu quả kinh tế và mục tiêu chuyển dịch năng lượng, kể cả kiểm soát nguy cơ dư công suất và phát thải mê-tan trên toàn chuỗi; và (iv) thiết kế mô hình đầu tư phù hợp và phân bổ hợp lý năm nhóm rủi ro chính về giá nhiên liệu, khối lượng, tỷ giá, tiến độ và tài chính.
Theo ông Phương, cần chuyển từ cách tiếp cận từng dự án riêng lẻ sang tổ chức một chuỗi hạ tầng đồng bộ, gắn với hiệu quả của toàn hệ thống.
Bởi vậy, phát triển hạ tầng LNG không thể tách rời việc thiết kế thị trường khí và thị trường điện. Quy hoạch, tiến độ đầu tư, cơ chế sử dụng hạ tầng và các hợp đồng cung cấp nhiên liệu, dịch vụ kho cảng, mua bán điện cần được tính toán tương thích.
Phát triển hạ tầng LNG phải bám sát quy hoạch và nhu cầu tiêu thụ thực tế; quy mô, địa điểm và phân kỳ đầu tư cần phù hợp với tiến độ các dự án điện và nhu cầu công nghiệp từng khu vực, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Việt Sơn nhấn mạnh. Cùng với việc tận dụng hạ tầng hiện có, cần phát triển các trung tâm LNG, cơ chế sử dụng chung, phân bổ công suất và giá dịch vụ minh bạch.
Các hợp đồng cũng cần tính đến sự biến động của giá LNG, tỷ giá, khối lượng tiêu thụ và khả năng huy động nhà máy điện. Nguồn cung có thể được đa dạng hóa thông qua kết hợp hợp đồng dài hạn với giao dịch giao ngay; phương án tập hợp nhu cầu mua chung được nghiên cứu trên cơ sở tự nguyện, minh bạch và phù hợp quy định.

Bà Jennifer Wicks, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Jennifer Wicks. Ảnh: Ngọc Linh
Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Jennifer Wicks cũng cho rằng: “LNG có ý nghĩa chiến lược đối với an ninh năng lượng và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Việc phát triển hạ tầng LNG hiện đại, bao gồm cảng nhập khẩu, kho chứa và kho nổi tái hóa khí (FSRU), sẽ giúp đa dạng hóa nguồn cung, ổn định hệ thống điện và hỗ trợ tích hợp năng lượng tái tạo".
Theo bà Jennifer Wicks, để thu hút đầu tư vào hạ tầng LNG, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, bảo đảm minh bạch về giá, cơ chế điều độ và các hợp đồng có tính khả thi về tài chính. Hoa Kỳ sẵn sàng đồng hành thông qua hỗ trợ kỹ thuật và đối thoại chính sách.
Như vậy, bài toán phát triển LNG không chỉ nằm ở việc bổ sung nhiên liệu nhập khẩu hay mở rộng công suất kho cảng. Quy hoạch hạ tầng, thị trường tiêu thụ và cơ chế hợp đồng phải được thiết kế đồng bộ. Trong bối cảnh nhu cầu LNG nhập khẩu biến động theo từng giai đoạn, hiệu quả đầu tư cần được đánh giá bằng khả năng khai thác hạ tầng, kết nối các khâu và đáp ứng nhu cầu thực tế, thay vì chỉ tính trên công suất được xây dựng.
