Bài toán mặt bằng trong phát triển cụm công nghiệp
HNN - Quy hoạch đến năm 2030 đặt mục tiêu phát triển 28 cụm công nghiệp (CCN) với tổng diện tích khoảng 1.370ha. Nếu tính cả các cụm tiềm năng và mở rộng, quỹ đất dự kiến lên khoảng 1.700ha. Đây là dư địa lớn để TP. Huế mở rộng không gian sản xuất, thu hút doanh nghiệp và tạo thêm việc làm. Nhưng để những diện tích ấy thực sự trở thành mặt bằng sản xuất còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện.

Ngành công nghiệp phát triển sẽ góp phần quan trọng trong giải quyết việc làm cho người lao động.
CCN Hương Xuân là một ví dụ. Dự án (DA) có diện tích 58ha, tổng mức đầu tư khoảng 487 tỷ đồng. Khi lập chủ trương đầu tư, kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự kiến hơn 11,8 tỷ đồng. Sau kiểm kê, con số khái toán thực tế tăng lên khoảng 91 tỷ đồng. Phương án bồi thường đợt 1 hơn 30,95 tỷ đồng đã được phê duyệt nhưng chủ đầu tư chưa chuyển kinh phí để chi trả. Lộ trình ứng vốn cũng được lùi từ quý I/2027 sang quý III/2027.
Sự chênh lệch giữa con số dự kiến và thực tế cho thấy một vấn đề không thể xem nhẹ khi triển khai DA bằng nguồn vốn ngoài ngân sách. Khi chưa có kinh phí chi trả bồi thường, mặt bằng chưa thể hoàn tất; các nhà đầu tư thứ cấp cũng chưa thể vào sản xuất. Một DA vì thế có thể được quyết định nhanh nhưng vẫn mất nhiều thời gian để đi đến bước đầu tiên của quá trình đầu tư.
Ở một số CCN, ngay cả khi bài toán vốn được giải quyết, một khu đất cũng chưa chắc đã sẵn sàng để xây dựng. Tại khu vực quy hoạch CCN Bình Thành, khe Bội đi qua khu đất theo hai đoạn, lần lượt khoảng 642m và gần 93m. Khu vực Cầu Lim 3 từng ngập khoảng 0,7m sau các trận mưa lũ cuối năm 2025, giao thông bị gián đoạn. Nếu xây dựng hạ tầng mà không tính đúng hướng thoát nước, việc san lấp, xây dựng có thể làm thay đổi dòng chảy và ảnh hưởng đến cả khu vực xung quanh. Vì vậy, phương án nắn chỉnh khe Bội và các chi lưu phải được tính trong quá trình hoàn thiện quy hoạch.
Cũng từ góc độ hiện trạng, khu vực dự kiến phát triển CCN Hương Văn 2 có bãi thải số 4 của DA cao tốc Cam Lộ - La Sơn giai đoạn 1. Những vấn đề về xác định khối lượng đất thải, quản lý và sử dụng khoáng sản theo quy định trở thành phần việc không thể bỏ qua.
Các trường hợp này cho thấy, điều quyết định không chỉ là diện tích đất bao nhiêu, mà là bao nhiêu trong số đó có thể tạo lập thành mặt bằng sản xuất. Nếu những yếu tố liên quan đến dân cư, tài sản trên đất, dòng chảy, bãi thải hay các điều kiện khác chỉ được phát hiện trong quá trình triển khai, DA sẽ tiếp tục phải điều chỉnh, bổ sung và chờ đợi. Chi phí vì thế sẽ tăng lên và tiến độ sẽ kéo dài.
Đó cũng là lý do câu chuyện phát triển CCN cần được nhìn từ đầu vào chứ không chỉ từ mục tiêu cuối cùng. Trước khi tính đến mục tiêu thu hút được bao nhiêu doanh nghiệp, cần biết khu đất có thực sự phù hợp, chi phí tạo lập mặt bằng bao nhiêu, những vấn đề nào có thể phát sinh và nhà đầu tư có đủ khả năng giải quyết hay không.
Đến nay, TP. Huế đã thành lập 12 cụm công nghiệp với tổng diện tích hơn 405ha. Có 5 cụm đang hoạt động, thu hút 131 DA, cho thuê hơn 112ha và giải quyết việc làm cho khoảng 10.000 lao động. Những con số này cho thấy, CCN đã và đang tạo ra giá trị thực tế. Đồng thời khẳng định, giá trị của một CCN không nằm ở diện tích được quyết định thành lập, mà ở phần diện tích thực sự được đưa vào sản xuất.
Huế cần thêm không gian cho sản xuất công nghiệp. Vì vậy, tháo gỡ khó khăn cho những DA có khả năng triển khai là cần thiết. Vướng mắc ở khâu thủ tục nào cần phải tập trung tháo gỡ ở khâu thủ tục đó. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng cũng cần được phối hợp để đẩy nhanh. Những vấn đề về hạ tầng và điều kiện tự nhiên cũng phải được dự báo từ sớm.
Nếu nguyên nhân chậm tiến độ nằm ở năng lực tài chính hoặc khả năng thực hiện của nhà đầu tư, cần có đánh giá rõ ràng để quyết định tiếp tục hay thay đổi. Một DA kéo dài nhiều năm mà chưa hình thành được mặt bằng không chỉ làm chậm chính dự án đó, mà còn gây lãng phí đất đai và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư.
Vì vậy, cùng với việc mở rộng mạng lưới CCN, thành phố cần quan tâm hơn đến chất lượng của từng DA ngay từ khi đưa vào quy hoạch. Không chỉ xem khu đất rộng bao nhiêu, nằm ở đâu, mà phải tính được khả năng tạo lập mặt bằng, chi phí giải phóng mặt bằng, phương án tái định cư, điều kiện hạ tầng và năng lực của nhà đầu tư. Mục tiêu cuối cùng không phải để có thêm những con số trong danh mục quy hoạch, mà có thêm những mặt bằng được khai thác, những nhà máy đi vào hoạt động và tạo ra việc làm cho người lao động.

