Bản lĩnh người chiến sĩ đặc công Quảng Đà

Trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ khốc liệt, trên mảnh đất Quảng - Đà kiên cường, có những con người bình dị đã dâng hiến trọn tuổi trẻ, xương máu cho Tổ quốc. Trong dòng chảy lịch sử ấy, cuộc đời và phẩm chất của cựu chiến binh (CCB) Nguyễn Đình Tham (SN 1945, phường Điện Bàn Bắc) là minh chứng sinh động cho ý chí kiên trung, tinh thần hy sinh và bản lĩnh son sắt của một thế hệ đã sống, chiến đấu vì độc lập, tự do cho dân tộc.

CCB Nguyễn Đình Tham.

CCB Nguyễn Đình Tham.

Tuổi trẻ dấn thân, trưởng thành trong lửa đạn

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, tuổi thơ của Nguyễn Đình Tham gắn với ruộng đồng, làng quê và những lần chứng kiến cảnh giặc càn quét đánh phá. Từ đó, trong lòng cậu bé Tham sớm hình thành ý chí căm thù giặc và khát vọng được góp sức cho cách mạng. Năm 1961, mới tròn 16 tuổi, ông tham gia hoạt động bí mật ở địa phương, làm giao liên, bảo vệ cơ sở cách mạng giữa vòng vây địch.

Đến năm 1964, vượt qua sự kìm kẹp của ấp chiến lược, Nguyễn Đình Tham thoát ly lên chiến khu, chính thức gia nhập quân giải phóng. Nhờ phẩm chất gan dạ, nhanh nhẹn và thông thạo địa hình, ông được tuyển chọn đào tạo trinh sát; đến năm 1965 được biên chế về Tiểu đoàn 489, đặc công Đà Nẵng, đảm nhiệm nhiệm vụ trợ lý tác chiến, kiêm đội trưởng đội trinh sát. Đây là đơn vị nổi tiếng với tinh thần “đánh hiểm, đánh sâu”, chuyên đảm nhận những trận then chốt trên vành đai diệt Mỹ Hòa Vang và vùng ven nội đô Đà Nẵng.

Trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, ông trực tiếp tham gia hơn 50 trận đánh lớn nhỏ, góp mặt trong 8 chiến dịch quan trọng. Đặc biệt, trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Nguyễn Đình Tham cùng đồng đội bí mật luồn sâu vào nội thành Đà Nẵng, đánh nhiều mục tiêu trọng yếu. Nổi bật là tháng 5-1968, đơn vị của ông tham gia trận đánh mang mật danh X1, tập kích lực lượng tăng - thiết giáp của địch tại khu vực chùa Non Nước. Tiếp đó, tháng 8-1968, trong trận X2, ông chỉ huy đội trinh sát vượt sông Cẩm Lệ, đánh chiếm quận lỵ và Chi Cảnh sát Hòa Vang, tạo thế uy hiếp mạnh mẽ đối phương ngay cửa ngõ Đà Nẵng.

Với những chiến công xuất sắc, năm 1968, Nguyễn Đình Tham được tuyên dương tại Đại hội Chiến sĩ thi đua Khu 5, trở thành báo cáo điển hình toàn Khu. Sau Đại hội, ông được Mặt trận 44 Quảng Đà điều động giữ chức Đại đội trưởng Đại đội đặc công biệt động Lê Độ, trực tiếp phụ trách các trận đánh táo bạo trong lòng Đà Nẵng, chuẩn bị cho Chiến dịch Xuân Kỷ Dậu 1969.

Trong nhiệm vụ mới, đơn vị của ông được giao nhiệm vụ tấn công Ty Cảnh sát Gia Long, cơ quan an ninh trọng yếu của chính quyền Sài Gòn, nơi giam giữ nhiều tù chính trị và chiến sĩ cách mạng. Với lối đánh “bí mật, bất ngờ, táo bạo, luồn sâu, đánh hiểm”, trận đánh làm rung chuyển bộ máy an ninh địch, giải phóng nhiều tù chính trị, tạo khí thế mở màn cho Chiến dịch Xuân Kỷ Dậu.

Kiên trung trong ngục tối, vững niềm tin ngày trở về

Thế nhưng, chỉ ít giờ trước khi chiến dịch Xuân Kỷ Dậu diễn ra, Nguyễn Đình Tham bị chỉ điểm và rơi vào tay địch. Ông bị giao cho Sở 1 An ninh quân đội và Trung tâm thẩm vấn Thanh Bình. Suốt 5 tháng trời, địch dùng đủ mọi cực hình tra tấn dã man nhằm khai thác thông tin, nhưng ông một mực không khai báo, quyết giữ trọn khí tiết người cộng sản.

Không khuất phục trước đòn roi, ông cùng một đồng đội lợi dụng đêm tối đào ngục tìm đường thoát, song kế hoạch không thành, bị bắt lại. Ngày 30-1-1970, Nguyễn Đình Tham cùng 60 tù chính trị khác bị đưa ra Côn Đảo - nơi được ví như “địa ngục trần gian”.

Tại Côn Đảo, quân thù tìm mọi cách hạ nhục ý chí người cộng sản như đánh đập, cùm kẹp, bỏ đói, biệt giam trong chuồng cọp, có khi nửa năm, một năm mới được tắm. Nhưng chính trong địa ngục ấy, ông và đồng đội biến nhà tù thành mặt trận đấu tranh, giữ vững niềm tin tất thắng.

Sau Hiệp định Paris năm 1973, dù tình hình có nhiều thay đổi, chính quyền Sài Gòn vẫn tiếp tục tìm cách kiềm kẹp, tráo hồ sơ tù chính trị thành “Gian nhân hiệp đảng” nhằm trì hoãn việc trao trả, trong đó có ông. Tháng 7-1973, Nguyễn Đình Tham bị nhốt dưới hầm tàu, chuyển về giam giữ tại trại Hố Nai (Biên Hòa). Tại đây, ông tiếp tục tham gia đấu tranh đòi quyền lợi tù chính trị. Đến tháng 2-1974, trong đợt trao trả tù binh tại Lộc Ninh (tỉnh Bình Phước), ông được tự do, trở về với cách mạng sau những năm tháng đọa đày.

Trở lại đơn vị, Nguyễn Đình Tham tiếp tục công tác trong lực lượng vũ trang Đà Nẵng, góp phần vào sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam. Năm 1979, ông lập gia đình, người bạn đời cũng là chiến sĩ đặc công - biệt động, sau chuyển ngành sang Công an. Kết thúc chiến tranh, ông mang quân hàm Đại úy, rồi tham gia công tác địa phương cho đến ngày nghỉ hưu.

Về với đời thường, ông vẫn giữ lối sống giản dị, liêm chính. Đặc biệt, ông cùng đồng đội tham gia tìm kiếm, quy tập khoảng 200 hài cốt liệt sĩ trên chiến trường Quảng - Đà, đưa các anh hùng liệt sĩ về với đất mẹ. Trong suốt cuộc đời cống hiến, ông được tặng thưởng 5 Huân chương Chiến công, 6 lần được vinh danh Dũng sĩ diệt Mỹ, diệt máy bay, diệt xe tăng; tháng 5-2026 tới sẽ được trao Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng. Ông bộc bạch: “Nhiều đồng đội đã nằm lại trong rừng sâu, trong ngục tối. Mình còn sống là để kể lại cho thế hệ sau hiểu rằng, độc lập hôm nay được đánh đổi bằng máu xương và không bao giờ được phép quên”.

Ông Nguyễn Văn Hùng, Chủ tịch Hội CCB phường Thanh Khê, đánh giá: Nguyễn Đình Tham là tấm gương tiêu biểu của người chiến sĩ đặc công Quảng – Đà với bản lĩnh thép, ý chí kiên trung và lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc. Hiện ông đang sinh sống, sinh hoạt tại Chi hội CCB Thanh Minh (phường Thanh Khê). Trở về đời thường, ông vẫn luôn trách nhiệm, tích cực tham gia công tác hội, góp phần lan tỏa phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong cộng đồng.

Hơn nửa thế kỷ trôi qua, những câu chuyện về Nguyễn Đình Tham vẫn vẹn nguyên giá trị. Đó không chỉ là ký ức của một đời người, mà là bài học sâu sắc về ý chí, niềm tin và trách nhiệm với Tổ quốc.

Xuân Thục

Nguồn CAĐN: https://cadn.com.vn/ban-linh-nguoi-chien-si-dac-cong-quang-da-post335460.html