Bàn về đạo đức nghề và đạo đức doanh nhân Việt Nam
Chào mừng ngày Doanh nhân Việt Nam, cùng GS.TS Hoàng Xuân Cơ bàn về đạo đức nghề và đạo đức doanh nhân Việt Nam.
Bối cảnh
Ai cũng có nghề kiếm cơm của mình, có người có nhiều nghề nhưng vẫn có nghề chính kiếm nhiều tiền nhưng cũng có nghề mình yêu nữa. Vì vậy, người hạnh phúc nhất là nghề mình yêu cũng là nghề kiếm cơm chính. Nói “kiếm cơm” có vẻ hơi khiếm nhã nhưng có lẽ đúng nghĩa nhất vì ai cũng phải sống, phải nuôi con, phải phụng dưỡng bố mẹ, giúp đỡ người thân. Mà thật ra, kiếm sống ngày nay luôn gắn với kiếm tiền, vì, cuộc sống không thể chỉ dựa vào những thứ con người tự tạo ra (gạo, rau, thịt,...tự cung tự cấp) mà còn cần những thứ phải mua bằng tiền. Kể cả những sản phẩm tự tạo ra cũng có thể định giá bằng tiền, vậy nên kiếm tiền cũng đồng nghĩa với kiếm sống.

PGS.TS Hoàng Xuân Cơ
Người ta kiếm sống bằng nhiều nghề. Vì vậy trong khai lý lịch luôn phải khai nghế nghiệp, chẵng hạn như nông dân/làm ruộng, công nhân dệt, thợ thủ công, giáo viên, nhân viên y tế,... Trong rất nhiều nghề như vậy, người ta cũng có những đánh giá tính tốt, xấu để so sánh và lựa chọn nghề khi cần thiết. Ngày xưa, một số nghề được coi là tốt/cao quý có thể gắn với danh xưng “thày” như thày thuốc/lang, thày giáo/đồ, thày cãi,... còn một số nghề được coi là không tốt/rẻ mạt được gắn với danh xưng “con”, “thằng”, “tên”,... như con buôn, con hát, thằng trộm, thằng cướp chẵng hạn. Tuy nhiên, tôi cũng không hiểu liệu thày bói có thể coi là “tốt/đáng quý” không và tôi tìm được một các giải thích khác về danh xưng “thày” trong trường hợp này: tôn xưng người làm các nghề đòi hỏi có học.
Ngày nay, tính tốt hay xấu đã có nhiều thay đổi và không thể dùng các từ danh xưng để đại diện nữa. Tuy nhiên, nhiều người vẫn cho rằng đa số các Thày/Cô vẫn giữ được uy tín với ngành của mình, đặc biệt là Thày Thuốc và Thày Giáo. Và, tất nhiên, trong thời đại xã hội áp dụng kinh tế thị trường thì giá trị nghề nghiệp có thay đổi theo khả năng “kiếm tiền”, nghía là nghề nào kiếm được nhiều tiền thì nghề ấy cùng một số cá nhân tiêu biểu được ca ngợi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Nghề kinh doanh, với hai loại hình chính là sản xuất các sản phẩm và cung cấp dịch vụ đang được quan tâm cùng với những người chủ doanh nghiêp, doanh nhân có thu nhập khủng sở hữu lượng tài sản hàng tỷ USD. Nghề phục vụ, kinh doanh các chương trình giải trí, đặc biệt là ca hát, điện ảnh cũng đang được ca ngợi với dự án lớn, doanh thu hàng trăm tỷ đồng và quy mô rất đồ sộ.
Trên thực tế, người ta vẫn hay nói đến người tài, thậm chí rất tài về một lĩnh vực nào đấy nhưng có lẽ tài kinh doanh vẫn là tài mang lại sự giàu có hơn hẵn. Ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta thường rất phục một bạn nào đó học giỏi, chẳng hạn giỏi toán chẳng hạn, được các giải cao, cấp quốc gia và bây giờ là cả giải quốc tế. Nhưng, theo thống kê, rất ít người giỏi chuyên sâu có thể kiếm được nhiều tiền. Tôi có hỏi nhiều bạn quốc tế họ cũng công nhận như vậy. Vậy người có thể thu được mức thu nhập cao, trở nên siêu giàu phải có những “nền tảng” nào. Trước hết, những người giàu có, kiếm được nhiều tiền thì họ phải có tài nhưng đôi khi không quá tài về lĩnh vực cụ thể mà cái tài của họ là biết sử dụng người tài. Tôi đã có bài viết về tài dùng người của các nhà lãnh đạo chính trị còn bây giờ muốn đề cập chủ yếu về tài dùng người của các doanh nhân thành đạt. Những người tài thường là người nổi tiếng, có năng khiếu nên rất dễ nhận diện nhưng giỏi chtuyên môn sâu chỉ là một điều kiện cần còn điều kiện đủ phải là có khả năng chuyển kiến thức cao siêu có được sang thực hành để thu lợi và phải có tính cách trung thực. Tôi có một người cháu họ được đào tạo và làm việc cho công ty lớn chuyên về tìm kiếm những người giỏi, có thể phục vụ sự phát triển của công ty. Nhiều bạn tôi gọi đây là nghề “săn đầu người” và cho việc này không có gì là tốt đẹp. Tuy nhiên, dùng lý thuyết về chi phí cơ hội của lao động tôi hiểu ra: đây cũng là một dạng cạnh tranh tìm người tài và sử dụng họ cho mục đích của mình, của tổ chức mình. Tôi rất nhớ lần lên dự ra mắt Khu công nghệ cao Hòa Lạc được nghe những hoạt động rất có ý nghĩa trong sự phát triển chung của Hà Nội và Việt Nam trong tương lai. Một trong số đó là hoạt động cầu nối giữa nhà khoa học với nhà đầu tư sản xuất. Những kết quả thu được của các nhà khoa học sẽ được đánh giá/định giá về khả năng áp dụng trong thực tiễn để sản xuất sản phẩm, dịch vụ thương mại. Tôi rất vui vì biết các nhà khoa học rất khó định giá kết quả nghiên cứu của mình và cũng không biết ai có thể sử dụng vì kết quả nghiên cứu phải qua một công đoạn quan trọng là thử nghiệm, sản xuất thử và đánh/định giá sản phẩm qua nghiên cứu thị trường. Ví dụ, một nhà nông học nghiên cứu được một giống lúa cho sản lượng cao, chất lượng tốt trong khu thí nghiệm nhưng để đưa được đến tay người nông dân và để họ tin tưởng sử dụng phải qua triển khai trên đồng ruộng thực tế ở quy mô đủ lớn mới có thể có kết quả mong muốn. Tôi không biết cụ thể loại gạo ST25 (được đánh giá ngon nhất Thế giới lần thứ 3 năm 2025) của nhà nông học/kỹ sư Hồ Quang Cua khi đem ra sản xuất thực tế có qua quá trình này không và tác giả của nó được nhận những gì ngoài danh xưng/cúp gạo ngon nhất thế giới. Tôi hy vọng là những người sản xuất, kinh doanh loại gạo này chi trả một phần lợi nhuận cho tác giả của nó. Ngoài các khu công nghệ cao, tài sản khoa học của các nhà nghiên cứu cũng đã được đăng ký công nhận bản quyền ở Việt Nam nhưng quả thật nhiều người (trong đó có tôi) không hiểu lắm về giá trị các bản quyền này. Chẳng hạn, giữa bản quyền giống lúa ST25 (của kỹ sư Hồ Quang Cua) và bản quyền gạo ST25 có mối liên hệ như thế nào mà loại gạo này đã bị mất thương hiệu ở nước ngoài vẫn là điều cần tiếp tục nghiên cứu để giữ được bản quyền/thương hiệu của Việt Nam.
Tôi nhớ lại (và có lần đã công bố đâu đó) về một sản phẩm rất nhỏ, đó là quy trình/hệ thống phun nước vôi vào xử lý khí thải từ ống khói lò gạch. Được một tổ chức nước ngoài tài trợ nhóm nghiên cứu của chúng tôi đã tiế hành thử nghiệm, lắp đặt hệ thống này cho một ống khói lò gạch thủ công ở một xã ven sông Đuống và có kết quả giảm thải khí SO2 gần 60%, được công bố trong một bài báo quốc tế, được đưa vào báo cáo tổng kết dự án và được báo cáo tại nhiều hội thảo. Sau này, hệ thống này được đưa trưng bày tại chợ khoa học công nghệ, gian hàng của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN. Chúng tôi cũng không có ý định khai để nhận bản quyền nhưng thiếu chút nữa đã có thể thu lợi từ “bản quyền” hệ thống này. Vào những năm cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, có rất nhiều lò gạch thủ công với ống khói phun liên tục, đặc biệt là ở vùng dọc hai bên sông Đuống. Khói thải chứa nhiều khí SO2 và bụi dã ảnh hưởng đến đời sống nhân dân làm suy giảm sức khỏe, suy giảm sản lượng lúa nên các cơ quan chức năng đã suy tính hai khả năng: (1). cấm loại lò gạch này hoạt động và (2). cho hoạt động nhưng phải có hệ thống xử lý. Tôi đã rất ngạc nhiên khi nhận được một số cuộc gọi yêu cầu cho phép sử dụng hệ thống này (và sẵn sàng trả tiền) từ một số chủ lò gạch vì họ có tham dự chợ khoa học công nghệ nên biết thông tin về hệ thống xử lý của nhóm chúng tôi. Thật “buồn/không may” là sau đó có quyết định cấm hoạt động lò gạch thủ công nên chúng tôi đã “mất” một khoản thu nhập từ bản quyền hệ thống xử lý khí thải này.
Có lẽ nói về kiếm tiền trong thời đại hiện nay, khi Việt Nam đã vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, khi mà khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng thì việc nắm bắt các quyền lợi mà mình có thể được hưởng để tiến hành xin cấp bản quyền các loại là điều quan trọng vào loại số một và không thể thiếu.
Và phải chăng, kiếm tiền dựa trên hiểu biết pháp luật, dựa trên đạo đức nghề, trong đó có việc chi trả đúng cho bản quyền nghiên cứu của các nhà khoa học là điều hiển nhiên. Muốn vậy, phải hiểu đúng những nội hàm cơ bản của đạo đức nghề và đạo đức doanh nhân để những người làm nghế và những doanh nhân có ứng xử với xã hội tốt hơn, đóng góp cho thịnh vượng của đất nước nhiều hơn.
Theo cách hiểu chung nhất thì Đạo đức là hệ thống các quy tắc, tiêu chuẩn và chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con người tự nguyện điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng và xã hội. Đạo đức bao gồm các nguyên tắc và giá trị đúng sai, công bằng, và lý tưởng trong hành vi và tư tưởng của con người. Những phân tích dưới đây sẽ đi sâu tìm hiểu đạo đức một số loại nghề nghiệp và đạo đức Doanh nhân, nhân kỷ niệm Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10/2026.
Đạo đức nghề
Như trên đã trình bày, hiện có rất nhiều nghề và một người có thể làm một lúc nhiều nghề. Tuy nhiên, vẫn có những nghề có truyền thống lâu đời, gắn liền với sự phát triển chung của loài người. Về kinh tế, nhiều nền/loại hình kinh tế được gọi tên nhấn mạnh vào một loại nghề chính, loại nghề dẫn dắt, loại nghề phổ biến trong một giai đoạn phát triển cụ thể. Sau thời kỳ kinh tế hái lượm nguyên thủy, loài người bước sang thời kỳ kinh tế trọng Nông, nghề chính, nuôi sống cộng đồng dân cư bằng sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm tự cung tự cấp là chính. Nền kinh tế trọng nông đóng vai trò quan trọng trong thời kỳ phong kiến. Khi sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đã sản xuất được nhiều sản phẩm với sản lượng cao hơn thì nảy sinh nhu cầu phân phối sản phẩm từ nơi sản lượng cao, thừa sản phẩm sang những nơi còn thiếu. Khi con người biết sử dụng những phương tiện vận tải, chở hàng có khả năng vận chuyển xa thì dẫn tới xuất hiện các con đường gắn liền với vận chuyển một loại hàng cụ thể như con đường lúa gạo, con đường tơ lụa chẳng hạn. Phương tiện vận chuyển trên bộ mới chỉ là sức kéo của ngựa, lừa, lạc đà nhưng được tổ chức tốt nên dòng chảy hàng hóa được phân bổ đến nhiều nơi. Khi đóng được những thuyền buồm lớn, đủ sức chạy trên biển dài ngày thì đã có dòng hàng hóa vận chuyển xuyên quốc gia trên biển. Do lợi dụng sức gió nên con người đã biết về hướng gió thịnh hành và xác định thời gian vận chuyển thích hợp, trong đó xuất hiện một loại gió được mang tên nghề vận chuyển này, đó là gió Mậu dịch, còn gọi là tín phong. Vì có sự chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp là chính sang hoạt động vận chuyển, lưu thông, buôn bán hàng hóa nên sau đó nền kinh tế trọng nông đã dần chuyển sang kinh tế trọng Thương (thương nghiệp). Với sự phát triển nhanh của nghiên cứu khoa học, nhiều phát minh được đưa vào ứng dụng, điển hình là máy hơi nước và đặc biệt là điện được sản xuất và đưa vào áp dụng đã giúp con người sản xuất được nhiều loại sản phẩm có nhiều tính năng vượt trội phục vụ các hoạt động kinh tế và nâng cao mức sống con người. Sản xuất lúc bày đã chuyển sang dạng sản xuất hàng hóa trong những nhà máy, nghĩa là chuyển sang sản xuất công nghiệp. Với việc sản xuất mang tính dây chuyền và tiêu chuẩn hóa sản phẩm cũng như từng chi tiết sản phẩm để mở rộng sản xuất chi tiết sản phẩm ở nhiều vùng khác nhau nhưng khi lắp ráp lại sẽ được sản phẩm hoàn chỉnh. Và, kinh tế dần chuyển sang kinh tế trọng Công với những thành tựu hết sức to lớn cho đến hiện tại. Và, ngày nay đã và đang chuyển sang nền kinh tế trọng Trí/Tri với những sản phẩm có hàm lượng tri thức rất cao cùng giá trị gia tăng lớn. Đây là điều phải nhanh chóng nắm bắt để chuyển hướng nền kinh tế nước nhà theo các định hướng phát triển của Đảng.
Xét về nghề nghiệp Việt Nam, chúng ta vẫn còn nhớ tên các ngành nổi tiếng như nghề Y, nghề Dược, nghề Giáo, nghề May, nghề Thép,... nhưng giờ đây phải căn cứ vào các quy phạm pháp luật để xác định nghề một cách hợp lý.
Ngày 26 tháng 11 năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số: 34/2020/QĐ-TTg ban hành Danh mục nghề nghiệp Việt Nam (sau đây viết tắt là QĐ34). Chúng tôi cho rằng đây là cố gắng rất lớn của Nhà nước trong việc định danh nghề nghiệp một cách chính quy, có cơ sở khoa học và tính ứng dụng rất cao. Mọi người có thể tra cứu QĐ34 để biết nghề nghiệp của mình hiện nay là nghề nghiệp gì, có mã số như thế nào để biết yêu cầu làm việc và tra thêm quy định tính lương để biết mức thu nhập/lương có thể được hưởng.
Trong QĐ34, nghề nghiệp được chia làm 10 nhóm cấp 1. ký hiệu từ 1 đến 9, riêng nhóm nghề đối với Lực lượng vũ trang được ký hiệu là “0” (bảng 1).
Danh mục nghề nghiệp trong QĐ34 được chia thành 5 cấp:
Cấp 1: Cấp độ kỹ năng;
Cấp 2 đến cấp 5: Lĩnh vực chuyên môn.
Cấp độ kỹ năng thể hiện độ khó, độ phức tạp trong việc thực hiện nhiệm vụ cũng như yêu cầu/trình độ về trình độ của người thực hiện với 5 cấp:
“(a) Cấp độ kỹ năng 1: Nhiệm vụ đơn giản, chỉ đòi hỏi sức khỏe, biết tính toán;
(b) Cấp độ kỹ năng 2: Nhiệm vụ đòi hỏi biết về chuyên môn của công việc, có trình độ chuyên môn nhất định tương đương sơ cấp;
(c) Cấp độ kỹ năng 3: Nhiệm vụ phức tạp hơn, đòi hỏi chuyên môn cao hơn cấp độ kỹ năng 2, tương ứng với trình độ trung cấp hoặc cao đẳng;
(d) Cấp độ kỹ năng 4: Nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi có chuyên môn sâu, tương ứng với trình độ đại học;
(e) Cấp độ kỹ năng 5: Nhiệm vụ phức tạp nhất, đòi hỏi có chuyên môn sâu, rộng, tương ứng với trình độ sau đại học.”
Theo QĐ34 thì “Khái niệm cấp độ kỹ năng không áp dụng cho những người thuộc nhóm 1 (Lãnh đạo, quản lý trong các ngành, các cấp và các đơn vị) và nhóm 0 (Lực lượng vũ trang), bởi vì mức độ thực thi các nhiệm vụ và trách nhiệm thuộc 2 nhóm nghề này rất khác nhau và không thể so sánh với bất kỳ một cấp độ kỹ năng nào đã nêu ở trên. Việc tiếp tục chia nhỏ các nhóm nghề cấp 1 cơ bản dựa trên cơ sở kỹ năng chuyên môn, được xác định bằng cách xét đến lĩnh vực chuyên môn mà công việc đòi hỏi, các công cụ và máy móc đã sử dụng, các nguyên vật liệu dùng trong sản xuất và loại sản phẩm và dịch vụ đã làm ra.”
Bảng 1. Mối quan hệ của 10 nhóm nghề cấp 1 trong Danh mục nghề nghiệp Việt Nam và 5 cấp độ kỹ năng.
Những người làm nghề thuộc nhóm 1 phải có cấp độ kỹ năng cao hơn cấp 1, chỉ có nhóm 10 với mã số “0” là có đầy đủ các cấp độ kỹ năng. Một số nhóm ngành cấp 1 yêu cầu cấp độ kỹ năng rất cụ thể, chẳng hạn nhóm 2 đòi hỏi cấp độ kỹ năng từ cấp 4 đến cấp 5 còn nhóm 3 cần cấp độ kỹ năng cấp 3; các nhóm từ nhóm 4 đến nhóm 8 cần cấp độ kỹ năng cấp 2; riêng nhóm 9 chỉ cần/yêu cầu cấp độ kỹ năng cấp 1.
Tên gọi nghề nghiệp cụ thể và cấu trúc mã nghề nghiệp theo QĐ34 được cho trong phụ lục I và minh họa rút gọn trong bảng 2. Từ phụ lục I cho thấy. ngay cả các chức danh lãnh đạo của Đảng, của Quốc hội, của Chính phủ cũng được coi là nghề nghiệp. Một nghề nghiệp cụ thể được mã hóa thành số có 5 chữ số theo thứ tự: số đầu là cấp 1; 2 số đầu chỉ cấp 2; 3 số đầu chỉ cấp 3; 4 số đầu chỉ cấp 4 và đủ 5 số sẽ là tên cụ thể các nghề nghiệp. Ví dụ: mã 10110 gồm các nghề nghiệp Tổng Bí thư, Thường trực Ban Bí thư, Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng thuộc cấp 1: Lãnh đạo, quản lý trong các ngành, các cấp và các đơn vị; cũng thuộc cấp 2 (10): Lãnh đạo cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam cấp trung ương và địa phương (chuyên trách); cũng thuộc cấp 3 (101); và cũng thuộc cấp 4 (1011). Tra trong phụ lục này chúng tôi thấy có tới 785 nghề nghiệp có mã nghề nghiệp đủ 5 số, nhưng nếu biết một số từ khóa vẫn có thể tra cứu được nghề nghiệp mình muốn tìm ở đâu. Trong số danh xưng các nghề nghiệp này thì tiếp đầu ngữ “Thợ” xuất hiện nhiều nhất, trên 200 lần với Thợ xây nhà;Thợ nề và các thợ có liên quan;Thợ đẽo đá/thợ khắc đá;Thợ mộc và thợ làm đồ gỗ;Thợ hàn,…Sau đó là tiếp đầu ngữ “Nhà” xuất hiện trên 100 lần, chẵng hạn như: Nhà vật lý học và thiên văn học, Nhà khí tượng học, Nhà hóa học, Nhà toán học, Nhà phân tích nghiên cứu hoạt động,… Tiếp đầu ngữ “Người” cũng xuất hieenk nhiều với gần 100 nghề nghiệp, chẳng hạn như: Người viết kịch bản, Người viết lời quảng cáo, Người viết tài liệu kỹ thuật, Người vẽ tranh hoạt họa,…
Bảng 2. Tên gọi nghề nghiệp và cấu trúc mã nghề nghiệp (đã rút gọn)
Để hiểu rõ hơn và có thêm tư liệu để so sánh chúng tôi tìm được danh mục nghề nghiệp của Cục Thống kê Lao động Hoa Kỳ với 831 nghề nghiệp được đưa vào. Tuy nhiên cơ cấu danh mục này có vẻ cụ thể hơn, tính tới cả số lượng việc làm mới dự kiến, mức lương trung vị năm 2025 (xem bảng 3).
Bảng 3, Minh họa cơ cấu danh mục nghề nghiệp của Mỹ [https://www.bls.gov/ooh/occupation-finder.htm]
Ghi chú: Có 831 dòng nghề nghiệp như vậy
Như vậy, trong thời đại ngày nay, danh mục nghề nghiệp rất dài, xuất hiện những loại nghề nghiệp mới, khó hình dung công việc họ làm. Ngày xưa các cụ nói bách nghệ đã thấy nhiều bây giờ còn nhiều hơn gấp bội. Mỗi nghề trước đây đều có những nét đẹp riêng và những người làm nghề đều cố gắng giữ cho được những nét đẹp này. Một số cộng đồng nghề còn thờ tổ nghề, có lễ hội nghề rất hoành tráng và lưu lại cho hậu thế những nét đẹp của nghề.
Thờ tổ nghề được coi là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, thờ: thể hiện sự biết ơn những vị sáng lập, mở mang tri thức ngành nghề cho nhân dân, di dưỡng đạo lý "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Những người làm cùng nghề thường sinh sống quần tụ với nhau thành nhóm nghề, phường nghề, làng nghề, họ thờ phụng các vị tổ của nghề mình đang làm. Có nhà lập bàn thờ tổ nghề tại gia, vào ngày tuần tiết, sóc, vọng, giỗ tết, đều có cúng cấp. Nhưng phổ biến hơn cả là các phường nghề, làng nghề lập miếu, đền, đình riêng để thờ tổ nghề riêng của nghề mà phường, làng mình đang làm. Đặc biệt, nhiều vị tổ nghề còn được thờ làm thành hoàng làng.
Thờ tổ nghề luôn đi cùng với truyền lại cho đời sau những truyền thống tốt đẹp của nghề, tôn vinh những người làm nghề giỏi, những sản phẩm tốt mà những người này làm ra. Và, có thể coi là đã hình thành một đạo lý/đạo đức nghề mà những người làm nghề luôn có ý thức tuân thủ, những người giữ/làm tốt đạo lý nghề sẽ được cộng đồng nghề tôn vinh còn những kẻ vi phạm đạo đức nghề thì bị cộng đồng nghề xa lánh, tẩy chay và không được ủng hộ làm nghề nữa. Theo quan niệm của những người tin vào tín ngưỡng thờ tổ nghề, nếu họ được may mắn, thành công trong nghề nghiệp nghĩa là họ được "tổ đãi"; ngược lại nếu họ bị xui rủi, thất bại thì nghĩa là họ bị "tổ trát" (tổ nghề trát phạt, trách phạt; đôi khi nói chệch thành "tổ trác").
Đây có lẽ là yếu tố chính để đạo đức nghề được giữ vững, truyền lại từ đời này sang đời khác. Ngày nay, ở Việt Nam, truyền thống thờ tổ nghề, tôn vinh những người làm nghề giỏi vẫn còn lưu truyền và nâng lên tầm cao mới.
Trang mạng Wikipedia tiếng Việt đã thống kê được rất nhiều tổ nghề, chỉ xin dẫn ra ở đây một số trong đó:
“Phùng Khắc Khoan: tổ nghề dệt lượt và trồng ngô[16]
Nguyễn Thị La(con ông Nguyễn Diệu, người Ái Châu, Thanh Hóa) là Bà tổ nghề dệt..
Công chúa Quỳnh Hoa thời vuaLê Thánh Tôngđược tôn là Bà chúa nghề tằm, hiện nay, tại các tỉnh miền Bắc, có gần 60 làng thờ bà..
Lý Quốc Sư(tứcNguyễn Minh Không): tổ nghề đúc đồng Việt Nam, được thờ ở các làng nghề Yên Xá, Tống Xá (Ý Yên,Ninh Bình); phố Lò Đúc, phố Ngũ Xã, số 5 phố Châu Long (Hà Nội),
Phạm Thị Trânlà bà tổ nghềhát chèoViệt Nam và cũng là bà tổ đầu tiên của ngành sân khấu Việt Nam,
……”
Nhà nước Việt Nam đã có chính sách vinh danh những nghệ nhân: Nghệ nhân Ưu tú, Nghệ nhân Nhân dân theo Nghị định số: 123/2014/NĐ-CP, ngày 25 tháng 12 năm 2014. Điều 3. Quyền và nghĩa vụ của Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú quy định:
“Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
Được nhận Huy hiệu, Giấy chứng nhận của Chủ tịch nước và tiền thưởng kèm theo danh hiệu “Nghệ nhân Nhân dân” hoặc “Nghệ nhân Ưu tú” theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng.”
Như vậy, hai nghệ danh này quả thật rất vinh dự, chỉ những người có công với nghề, có sản phẩm nghề ở trình độ cao, giá trị cao, được cộng đồng nghề tôn vinh mới nhận được. Đồng thời, chúng minh chứng cho sự ghi nhận, đánh giá cao của Nhà nước, của Chính phủ và của Nhân dân đối với người có công giữ nghề, nâng tầm nghề, truyền nghề cho các thế hệ sau.
Viết đến đây, quả thật đã dài nhưng không thừa vì nó là cơ sở để xem xét về đạo đức nghề nghiệp và chấp nhận tính đa dạng của đạo đức nghề nghiệp. Qua tìm hiểu, ngoài đạo đức chung, đạo đức làm người thì mỗi người trong khuôn khổ nghề nghiệp của mình luôn phải hiểu và cố gắng tuân thủ đạo đức riêng của nghề.

Sài Gòn trong nắng sớm. Ảnh: Văn Trung
Đạo đức nghề nghiệp chính là tập hợp các nguyên tắc, giá trị và chuẩn mực đạo đức mà các cá nhân cần tuân thủ trong nghề nghiệp của mình. Nó bao gồm các quy tắc và tiêu chuẩn đạo đức mà người làm việc trong một nghề nghiệp cần tuân thủ để đảm bảo hành vi và quyết định của họ phù hợp với lợi ích của cộng đồng và xã hội.
Và, hiện nay chúng ta đã có những quy định nhà nước cho đạo đức một số ngành nghề mang tính quy chế rõ ràng như quy định đạo đức nghề Giáo, đạo đức nghề Y, đạo đức Kinh doanh,… Trong khuôn khổ bài viết này cũng chỉ phân tích được 3 quy định này, riêng đạo đức kinh doanh, doanh nhân sẽ trình bày tách riêng trong phần sau.
Đạo đức nghề Giáo
Nghề Giáo với các Cô/Thầy giáo và những người phục vụ khác tại các trường học từ mẫu giáo đến các trường/học viện đại học. Một trong những yếu tố đảm bảo nghề Giáo vẫn được tôn vinh, đó là: những Cô/Thày giáo, những người tham gia công tác giáo dục vẫn giữ được đạo đức nghề với nhiều truyền thống tốt đep. Cô/Thày giáo không chỉ dạy chữ mà còn dạy người ngay từ khi chúng ta còn rất nhỏ, luôn là tấm gương sáng, là chuẩn mực cho chúng ta noi theo, từ lời nói, ăn mặc, ứng xử đều mang tính mô phạm, gương mẫu, có tính giáo hóa, có khả năng truyền cảm hứng cho người khác.
Để phát huy, nâng tầm hơn nữa đạo đức nghề Giáo, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 ban hành quy định về Đạo đức Nhà giáo. Đối tượng áp dụng bao gồm các nhà giáo đang làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục ở các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Trong Quyết định này, Điều 4. Đạo đức nghề nghiệp đã quy định:
“1. Tâm huyết với nghề nghiệp, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, đối xử hoà nhã với người học, đồng nghiệp; sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người học, đồng nghiệp và cộng đồng.
Tận tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị, nhà trường, của ngành.
Công bằng trong giảng dạy và giáo dục, đánh giá đúng thực chất năng lực của người học; thực hành tiết kiệm, chống bệnh thành tích, chống tham nhũng, lãng phí.
Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc; thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục”.
Tôi cũng là nhà giáo nên luôn tự nhủ mình tuân thủ đạo đức nghề nhưng quả thực không dễ chút nào. Đơn cử như phải “đánh giá đúng thực chất năng lực của người học” nhưng làm thế nào để thực hiện thì rất khó. Có lẽ vì vậy mà khi chấm điểm cho các bài thi người ta tách thành 2 loại điểm là điểm tuyệt đối do thày định ra với số điểm không hạn chế (có thể theo thang điểm 10, 20 thậm chí 100, 200) đi kèm barem định trước nhưng sau đó phải quy về điểm tương đối (thường theo hệ cao nhất là 4 điểm) và phân loại theo điểm A, B, C, D, E, F. Khi cho điểm/phân loại theo A, B, C,… thì người ta có/ngầm quy định bao nhiêu % A, bao nhiêu % B, bao nhiêu % C,… để phổ điểm tuân theo đường cong phân bố chuẩn hoặc gần chuẩn. Điều này giúp giáo viên chấm điểm tuyệt đối thoải mái nhưng khi chuyển sang điểm tương đối thì cần có phân loại học sinh với tỷ lệ các loại điểm hợp lý, nghĩa là chỉ tỷ lệ nhỏ được điểm cao nhất, thấp nhất còn % số học sinh được điểm khác có thể cao hơn.
Tôi đã có lần được sinh viên đặt câu hỏi: sao thầy cho điểm có vẻ “chặt” thế, điểm là do thày quyết định cứ cho nhiều điểm khá giỏi có hơn không? Đây là câu hỏi khó trả lời, tôi chỉ biết khi hỏi thi vấn đáp tôi hỏi hai đối tượng sinh viên diện xuất sắc, giỏi và sinh viên diện kém nhiều hơn để sinh viên được điểm giỏi có thể tự hào mình trả lời tốt còn sinh viên bị điểm kém thì thỏa mãn vì thầy đã cho mình cơ hội trả lời nhưng không trả lời được. Tôi cũng có kỷ niệm với cả hai đối tượng sinh viên này. Một lần bị tôi hỏi nhiều, sinh viên có vẻ căng thẳng nhưng vẫn trả lời tốt nên khi biết mình được điểm cao thì rất vui còn sinh viên bị điểm kém thì không buồn nhiều và cố gắng học thêm để thi lại và nhiều em khi thi lại đạt kết quả khá tốt.
Có lẽ các Cô/Thày giáo khi về hưu mới có thời gian suy nghĩ lại, kiểm điểm thêm về những gì mình làm được và nếu vẫn được các thế hệ học trò quý, thăm hỏi, vẫn có mối liên hệ tốt trong đời thường thì đó vừa là phần thưởng vừa là minh chứng phần nào cho sự cố gắng cả trong chuyên môn và trong giữ gìn đạo đức nghề trong cuộc đời làm nghề Giáo của mình.
Y đức- Đạo đức nghề Y
Nghề Y trước đây chủ yếu là trị bệnh cứu người nhưng ngày nay còn thêm nhiệm vụ lo lắng cho sức khỏe mọi người, nghĩa là lo phòng chống bệnh, ngăn ngừa, chẩn đoán sớm bệnh, phát hiện sớm những triệu chứng gây hại cho sức khỏe để có biện pháp điều trị sớm. Với những phát minh vĩ đại mà ngành Y có được, sức khỏe con người được lo liệu chu toàn hơn, ngay từ khi còn trong bụng mẹ đến thời trẻ thơ, thời nên thiếu, thời sung sức và cả khi về già, sang bên kia sườn dốc cuộc đời. Chúng ta, ai cũng phải tiếp cận với những người làm trong ngành Y, từ Bác sĩ, Y sĩ, Hộ lý, Xét nghiệm viên,…được họ phục vụ để sức khỏe mình tốt hơn, giúp mình đẩy lùi bệnh tật, kéo dài thêm tuổi thọ. Vì vậy, từ xa xưa con người đã thể hiện lòng biết ơn các Thầy thuốc
Ngành y tế và những người làm nghề Y luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Họ không chỉ là những người chữa bệnh mà còn là những người hy sinh thầm lặng, làm việc không mệt mỏi để cứu sống hàng triệu người. Có rất, rất nhiều những lời tri ân, những lời chúc mừng tôn vinh sự cống hiến của các thầy thuốc. Có một trang mạng đã tổng kết được vô số những lời tri ân như vậy để thấy rõ vai trò to lớn chả ngành Y, nghề Y đối với cuộc sống con người.
Y đức là yếu tố đóng góp lớn trong việc xây dựng hình ảnh ngàng Y, nghề Y. Bộ Y tế cũng đã có Quyết định số: 2088/BYT-QĐ ngày 06 tháng 11 năm 1996 ban hành “Quy định về Y đức”. Quyết định này khẳng định:
“Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh, coi họ đau đơn như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Lương y phải như từ mẫu". Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó khăn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền Y học Việt Nam. Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận”.
Trong số 12 quy định về Y đức thì tôi ấn tượng nhất với điều 6 dưới đây
“6- Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh.”
Đây là điều tưởng dễ thực hiện nhưng lại là điều nhiều cán bộ ngành Y, cả cán bộ quản lý và Y, Bác sĩ điều trị vi phạm đến mức bị xử lý hình sự.
Quả thật, nghề Giáo và nghề Y ngày nay đã có nhiều thay đổi về chuyên môn nhưng đạo đức hai nghề này vẫn giữ được những nét truyền thống tốt đẹp. Tuy nhiên, nhiều biểu hiện lệch lạc đã xuất hiện, rất cần phát hiện sớm để điều chỉnh. Nhất là trong nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nói riêng của Việt Nam thì hai ngành này đang có thiên hướng chuyển sang ngành dịch vụ kinh tế thuần túy. Có lẽ, hai ngành này hiện nay đang có tỷ lệ thu tiền của nhân dân vào loại cao nhất.
Chi trả cho việc học không hề nhỏ, mặc dù nhiều nước đã miễn thu học phí nhiều cấp học. Mới đây nhất, trong Nghị quyết số: 217/2025/QH15 của Quốc hôi khóa 15 về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân (được Quốc hội thông qua và áp dụng từ năm học 2025 – 2026) có Điều 2 quy định:
“Điều 2. Chính sách miễn, hỗ trợ học phí
Miễn học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục công lập.
Hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thống, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục dân lập, tư thục. Mức hỗ trợ học phí do Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định theo khung học phí do Chính phủ quy định nhưng không vượt mức thu học phí của cơ sở giáo dục dân lập, tư thục”.
Thật ra, cuộc sống đầu đời, tạm lấy mốc học thẳng hết bậc đại học chúng ta đã mất gần 20 năm sinh hoạt, học tập ở các trường và cả sau này nữa vẫn phải học ở các bậc học cao hơn hoặc chuyển sang học ngành nghề mới. Ngoài tiền chi trả rất lớn từ cha mẹ, họ hàng, người thân trong gia đình còn có mức chi rất lớn từ ngân sách nhà nước.
Ngay từ 2013, Nghị quyết 29-NQ/TW đã đề ra: “Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, bảo đảm đủ điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính cho phát triển giáo dục và đào tạo; bảo đảm ngân sách nhà nước chi cho giáo dục, đào tạo tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước, đồng thời, điều chỉnh tăng mức chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo phù hợp với tăng trưởng của nền kinh tế.”
Điều 96 Luật Giáo dục 2019 cũng quy định về ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục như sau: “Nhà nước ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, bảo đảm ngân sách nhà nước chi cho giáo dục, đào tạo tối thiểu là 20% tổng chi ngân sách nhà nước”.
Trong Niên giám thống kê 2025 đã liệt kê mức chi thực tế cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo và tỷ lệ % trong tổng chi ngân sách (bảng 3). Qua đó cho thấy những năm qua ngành Giáo dục Đào tạo vẫn chưa chi hết hạn mức 20% mà Quốc hội đã ưu ái dành cho nhưng mức chi thực tế đã rất lớn, cỡ vài triệu người một năm.
Bảng 3. Tổng chi ngân sách và chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo những năm gần đây, theo Niên giám thống kê 2025.
Tôi cũng đọc được một truyện ngắn mang tên “Ma chữ” trên Báo Văn nghệ (nhưng không nhớ số), đọc xong mà cảm nhận xót xa vì nhiều gia đình đã dốc hết hầu bao cho con, cháu theo học đến đại học thậm chí có bằng Thạc sĩ nhưng vẫn không tìm được việc làm đúng nghề. Là một thày Giáo nên đọc xong tôi thấy lòng mình nặng trĩu nhưng vẫn mong các em, như cô bé trong truyện, đã có được lượng kiến thức nhất định sau khi rời ghế nhà trường và chúng sẽ giúp đỡ em được nhiều trong công cuộc mưu sinh sau này.
Ngành Y cũng là ngành “giúp” ta tiêu tiền nhiều nhất. Khi bị bệnh hiểm nghèo và khi về già thì tiền tiêu cho sức khỏe cứ tăng vọt và hầu như mọi khoản “để dành” cuối cùng cũng bay hết trước khi ta về với tổ tiên. Tôi nhớ có lần gặp một cặp vợ chồng người Singapore trên chuyến tàu hỏa từ Tp. Hồ Chí Minh ra Hà Nội, ông ấy rất ấn tượng vì cuộc sống của đa số người già ở Việt Nam vẫn còn được con cháu lo toan. Theo Ông ấy thì ở một số nước có mức sống cao như Singapore thì sau khi rời vòng tay bố mẹ để tự mưu sinh, mọi người hối hả, thậm chí lăn xả vào làm việc, kiếm tiền để mua nhà, mua xe, để kinh doanh nhưng về già thì nhiều người sống rất cô độc. Chỉ cần một lần ốm nặng thì đã phải chi một số tiền lớn để chữa bệnh vì tiền chữa bệnh ở các nước này rất dắt. Ông ấy nói, ốm lần đầu thì có thể phải bán nhà to, biệt thự để mua nhà nhỏ hơn, kém tiện nghi hơn, vào viện lần 2 có thể phải bán nốt căn nhà rồi tìm đến nhà dưỡng lão từ thiện ở cho đến khi về cõi vĩnh hằng. Nghe mà não ruột nhưng ngẫm nghĩ lại, ai rồi cũng có thể gặp cảnh như vậy và ngành Y có thể là ngành thu hết những đồng tiền cuối cùng của một đời người.
Đạo đức kinh doanh/doanh nhân
Để viết phần này tôi phải tra cứu rất nhiều để có thể hiểu thấu đáo hơn, giải mã được, phân biệt được hai khái niệm/nội hàm: kinh doanh và doanh nhân. Và rồi, càng tìm hiểu tôi lại như lạc vào mê cung không có đường ra vì có quá nhiều bài viết liên quan, đưa ra nhiều “định nghĩa” khác nhau mà vẫn đúng, vẫn lột tả được ngữ nghía của kinh doanh và doanh nhân. Vì vậy, chúng tôi sẽ cố gắng ghi chú, chỉ rõ tài liệu tham khảo của từng khái niệm.
Về kinh doanh và đạo đức kinh doanh
Trong Luật Doanh nghiệp, Luật số: 59/2020/QH14 được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2020 có ghi rõ:
“Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận.
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.”
Cũng là kinh doanh nhưng phải gắn với sản phẩm làm ra hoặc dịch vụ tạo lập mới hiểu ngành nghề kinh doanh. Như vậy có khá nhiều mặt hàng kinh doanh được liệt kê trong Quyết định số 36/2025/QĐ-TTg ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó có 22 nhóm ngành cấp 1 chính, có thể kinh doanh, được mã hóa bằng chữ cái từ A, B, C,… V, mỗi trong nhóm ngành chính này là các ngành cụ thể cấp 2, 3, 4, 5. Cụ thể như sau
“a) Ngành cấp 1 gồm 22 ngành được quy định theo bảng chữ cái lần lượt từ A đến V;
b) Ngành cấp 2 gồm 87 ngành được hình thành theo từng ngành cấp 1 tương ứng và mỗi ngành được đánh mã số bằng hai chữ số từ 01 đến 99;
c) Ngành cấp 3 gồm 259 ngành được hình thành theo từng ngành cấp 2 tương ứng và mỗi ngành được đánh mã số bằng ba chữ số từ 011 đến 990;
d) Ngành cấp 4 gồm 495 ngành được hình thành theo từng ngành cấp 3 tương ứng và mỗi ngành được đánh mã số bằng bốn chữ số từ 0111 đến 9900;
đ) Ngành cấp 5 gồm 743 ngành được hình thành theo từng ngành cấp 4 tương ứng và mỗi ngành được đánh mã số bằng bốn chữ số từ 01110 đến 99000”.

GS.TS Hoàng Xuân Cơ
Có thể tra cứu mã A01110 trong Phụ lục I của Quyết định này để biết đây là ngành Trồng lúa, hay mã số B02200 là khai thác gỗ; mã số L65110 là ngành Bảo hiểm nhân thọ,… Đây được coi là cố gắng của ngành chức năng để mọi người có thể hình dung rõ hơn về các ngành kinh tế, ngành có thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam. Và, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về tính đa dạng của ngành nghề kinh doanh, để thấy kinh doanh có nội hàm rộng lớn như thế nào trong thực tiễn.
Xét về doanh nghiệp, ngoài ngành nghề kinh doanh phả kể đến quy mô kinh doanh nói chung và quy mô doanh nghiệp nói riêng. Với kinh doanh, có thể chỉ một cá nhân cũng có thể tham gia riêng rẽ, một bà gánh hàng rong đi bán dọc các con số, một cô bán hàng online trên mạng, một người mở lớp dạy thêm ngoài giờ là những điển hình của quy mô kinh doanh này. Kinh doanh quy mô hộ gia đình, bán hàng, cung cấp dịch vụ ăn uống, làm nghề thủ công,… với một người đứng ra làm chủ còn những người khác hỗ trợ. Ở quy mô cao hơn đó là quy mô doanh nghiệp nhưng chính doanh nghiệp cũng có quy mô/kích thức khác nhau, từ quy mô doanh nghiệp siêu nhỏ, đến nhỏ, đến vừa, đến lớn và cả rất lớn, siêu lớn.
Việt Nam đã có quy định kích thước doanh nghiệp ứng với quy mô nêu trên. Tại Điều 5 Nghị định 80/2021/NĐ-CP hướng dẫn tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:
- “Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng.
Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng.
- Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ.
Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ.
- Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ.
Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ”.
Ở Việt Nam, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm gần 98% trong tổng số các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế.
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến thời điểm 31/12/2024, cả nước có khoảng 940.078 doanh nghiệp đang hoạt động (tăng 2% so với cùng kỳ năm 2023). Gần 98% trong số này có quy mô nhỏ và vừa.
Tôi cứ nghĩ ở Mỹ không có các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng tôi đã lầm. Ở Mỹ không những có mà có rất nhiều doanh nghiệp được gọi là nhỏ. Mỹ cũng có quy định tiêu chí doanh nghiệp nhỏ dựa trên mức doanh thu hàng năm bình quân hoặc số lượng nhân viên bình quân của doanh nghiệp. Mức thu nhập của doanh nghiệp nhỏ chỉ vài triệu đến vài chục triệu USD/năm còn số nhân viên chỉ vài trăm người đến trên 1.000 người. Như vậy, xét theo tiêu chí thì quy mô doanh nghiệp nhỏ của Mỹ khác với của Việt Nam nên khó so sánh. Tuy nhiên, doanh nghiệp nhỏ của Mỹ thường có quy mô lớn hơn so với Việt Nam.
Tính đến năm 2025, Hoa Kỳ có 36,2 triệu doanh nghiệp nhỏ, chiếm 99,9% tổng số doanh nghiệp và 46% việc làm trong khu vực tư nhân. Tuy nhiên, con số 36 triệu này lại che khuất một thực tế quan trọng: đại đa số các doanh nghiệp Mỹ thực sự có quy mô nhỏ và còn có cả những cửa tiệm nhỏ, những người hành nghề độc lập và các chủ doanh nghiệp chỉ có vài nhân viên, trong khi chính họ cũng trực tiếp tham gia vào công việc.
Do kinh doanh không chỉ cho một ngành nghề nên chắc chắn nhà nước cũng không đưa ra được tiêu chuẩn đạo đức cho kinh doanh như đối với ngành Y hay ngành Giáo. Tuy nhiên những người làm kinh doanh nói chung vẫn phải tuân thủ những quy phạm pháp luật quy phạm đạo đức để có thể làm kinh doanh lâu dài, phát triển nhanh và hiệu quả kinh tế, thu nhập cao.
Việc duy trì các chuẩn mực đạo đức là trách nhiệm của nhà quản lý doanh nghiệp. Theo một bài báo năm 1990 trên tạp chí “Journal of Business Ethics” (Tạp chí Đạo đức Kinh doanh), "Quản lý hành vi đạo đức là một trong những vấn đề phổ biến và phức tạp nhất mà các tổ chức kinh doanh phải đối mặt ngày nay."
Theo một số tác giả quốc tế, thuật ngữ "đạo đức kinh doanh" bắt đầu được sử dụng phổ biến tại Hoa Kỳ vào đầu những năm 1970. Đến giữa thập niên 1980, đã có ít nhất 500 khóa học về đạo đức kinh doanh thu hút 40.000 sinh viên, sử dụng khoảng hai mươi cuốn giáo trình và ít nhất mười tập tài liệu tình huống (casebook) với sự hỗ trợ từ các hiệp hội chuyên môn, trung tâm và tạp chí về đạo đức kinh doanh. Hiệp hội Đạo đức Kinh doanh (Society for Business Ethics) được thành lập vào năm 1980. Các trường kinh doanh tại Châu Âu bắt đầu đưa đạo đức kinh doanh vào chương trình giảng dạy sau năm 1987, khởi đầu với Mạng lưới Đạo đức Kinh doanh Châu Âu (European Business Ethics Network).
Viện Đạo đức Kinh doanh (IBE), một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở ở Anh đã đưa ra một “định nghĩa” như sau:
Đạo đức kinh doanh là việc áp dụng các giá trị đạo đức vào hành vi kinh doanh. Đạo đức kinh doanh liên quan đến cả cách hành xử của từng cá nhân lẫn cách vận hành của toàn bộ tổ chức. Nó áp dụng cho mọi khía cạnh của hoạt động kinh doanh, bao gồm: Các chiến lược cấp lãnh đạo và quản trị doanh nghiệp; Mối quan hệ với nhân viên và nhà cung cấp; Các kỹ thuật bán hàng và hoạt động tiếp thị; Quy trình kế toán và sự minh bạch về tài chính.
Đạo đức kinh doanh đề cập đến các tiêu chuẩn, nguyên tắc, hệ giá trị và quy tắc ứng xử hiện hành nhằm điều chỉnh hành động và hành vi của các cá nhân trong một tổ chức kinh doanh. Đạo đức kinh doanh bao gồm hai khía cạnh: đạo đức kinh doanh mang tính quy phạm và đạo đức kinh doanh mang tính mô tả. Với tư cách là một hoạt động thực tiễn của doanh nghiệp và một chuyên ngành nghề nghiệp, lĩnh vực này chủ yếu mang tính quy phạm; trong khi đó, mọi người muốn tìm hiểu về hành vi kinh doanh thường sử dụng các phương pháp mô tả. Phạm vi và số lượng các vấn đề đạo đức kinh doanh phản ánh sự tương tác giữa hành vi tối đa hóa lợi nhuận và các mối quan tâm phi kinh tế.
Như vậy, tất cả những người tham gia kinh doanh đều phải nắm bắt, thấm nhuần và tuân thủ những điểm cốt yếu của đạo đức kinh doanh. Tất nhiên, rất khó hiểu hết được những gì được truyền dạy qua trường lớp, qua đọc tài liệu, qua tuyên truyền của các phương tiện đại chúng nhưng những người tham gia kinh doanh phải dần dần xác lập được cho mình những điểm chính của đạo đức kinh doanh để tuân thủ. Điển hình như minh bạch thông tin sản phẩm, không sản xuất/bán hàng hóa kém chất lượng, coi khách hàng là thượng đế,…
Trong thực tế, đa số những nười làm kinh doanh đã tuân thủ những quy phạm đạo đức cốt lõi nên con người đã được cung cấp những sản phẩm, dịch vụ ngày một tốt hơn. Nhưng vẫn còn một số người kinh doanh, thiếu đạo đức cung cấp những hàng hóa dịch vụ kém chất lương, thậm chí độc hại đến mức phải chịu xử phạt bằng các điều luật hình sự. Rõ ràng, còn nhiều vấn đề phải làm liên quan đến tuyên truyền, phổ biến đạo đức kinh doanh, đồng thời có hệ thống kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh để nhanh chóng phát hiện các hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh, vi phạm pháp luật để trừng trị kịp thời. Hệ thống này không chỉ đến từ Nhà nước mà còn phải có sự tham gia rộng rãi của cư dân, cộng đồng xã hội để hiệu quả thu được đạt mong muốn.
Về doanh nhân và đạo đức doanh nhân
Nước ta có ngày Doanh nhân Việt Nam, đó là ngày 13 tháng 10 theo Quyết định 990/QĐ-TTg năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ. Như vậy ta có ngày Nhà Giáo Việt Nam (20/11) tôn vinh các Thày/Cô giáo, ngày Thầy thuốc Việt Nam (27/2) và nay có ngày tôn vinh các Doanh nhân, tạo cơ hội giao lưu, kết nối và chia sẻ kinh nghiệm giữa các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, Doanh nhân không được liệt kê như một nghề nghiệp trong QĐ34 nên khó biết họ là ai. Thư viện pháp Luật ngày 17/01/2024 đã trả lời câu hỏi Doanh nhân là gì? Với câu trả lời: hiện nay, không có quy định nào định nghĩa về doanh nhân, tuy nhiên, có thể hiểu doanh nhân như sau:
“Doanh nhân là người kinh doanh, đôi khi được hiểu là những người chủ chốt trong việc quản trị, điều hành một doanh nghiệp. Đó có thể là những người đại diện cho các cổ đông, cho các chủ sở hữu (thành viên Hội đồng Thành viên, Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát) hoặc trực tiếp điều hành các doanh nghiệp (Ban Giám đốc).
Hiểu theo nghĩa rộng thì doanh nhân là những người có vị trí trong một doanh nghiệp và làm công việc quản trị trong doanh nghiệp”.
Mặc dù chưa có có quy định nào định nghĩa về doanh nhân nhưng Đảng, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều văn bản liên quan đến doanh nhân, chấp nhận/đánh giá cao vai trò, đóng góp của đội ngũ/tầng lớp này.
Tính từ 2010 đến nay (2026), Bộ Chính trị Đảng Công sản Việt Nam đã có 02 Nghị quyết liên quan tới đội ngũ doanh nhân Việt Nam, đó là Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9 tháng 12 năm 2011 về Xây dựngvà phát huyvai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (Sau đây gọi là NQ09) và Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10 tháng 10 năm 2023 về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới (Sau đây gọi là NQ41).
Từ năm 2011 NQ09 đã đánh giá:
“Đội ngũ doanh nhân nước ta đã không ngừng lớn mạnh, đóng góp tích cực vào việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động và các vấn đề an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo. Đội ngũ doanh nhân trong khu vực doanh nghiệp nhà nước ngày một trưởng thành, chất lượng được nâng lên, đáp ứng tốt hơn yêu cầu đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước. Đội ngũ doanh nhân trong khu vực ngoài nhà nước ngày càng đông đảo, thể hiện tính năng động, hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh doanh”
Như vậy, theo NQ09 thì có cả doanh nhân trong khu vực doanh nghiệp nhà nước và trong khu vực ngoài nhà nước. Đây là điều rất khác với một số quan điểm cho rằng doanh nhân chỉ được coi là ở các doanh nghiệp tư nhân/doang nghiệp ngoài nhà nước.
Trong phương hướng nhiệm vụ NQ09 đề ra: “Tổ chức cho doanh nhân và doanh nghiệp thực hiện tốt việc "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" và các cuộc vận động khác do Đảng, Nhà nước phát động”. Đây có lẽ là cách mà Đảng trợ giúp để doanh nhân Việt Nam không chỉ thực hiện, tuân thủ đạo đức kinh doanh mà còn học tập, thực hành đạo đức làm người, đạo đức vì quê hương, đất nước, dân tộc theo tấm gương của Bác Hồ. Đồng thời, đề cao đạo đức, văn hoá kinh doanh, trách nhiệm xã hội, tinh thần dân tộc của đội ngũ doanh nhân, xây dựng quan hệ lao động hài hòa. Đảng chủ trương: “Xây dựng chuẩn mực của doanh nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa : có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, ý thức tuân thủ pháp luật; có khát vọng vươn lên làm giàu cho mình, cho đất nước, không ngừng nâng cao năng lực kinh doanh và quản trị doanh nghiệp; có trách nhiệm với người lao động, với cộng đồng, xã hội và có đạo đức, văn hoá kinh doanh, góp phần chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí”.
Trong NQ41 đã đặt ra mục tiêu tổng quát:
“Phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh về số lượng, chất lượng, cơ cấu hợp lý, có tầm nhìn, trí tuệ, đạo đức, tinh thần kinh doanh, làm giàu chính đáng, năng động, sáng tạo, năng lực quản trị tiên tiến, tuân thủ pháp luật, có đạo đức, văn hoá kinh doanh mang bản sắc dân tộc; có trách nhiệm xã hội, ý thức bảo vệ môi trường, đóng góp xứng đáng cho các mục tiêu phát triển đất nước”.
Trong nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu NQ41 đã có mục 4. Xây dựng đạo đức, văn hoá kinh doanh, phát huy tinh thần dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc với nội dung:
-“ Hoàn thiện và vận động đội ngũ doanh nhân phấn đấu thực hiện chuẩn mực đạo đức, văn hoá kinh doanh, gắn với bản sắc dân tộc và tiếp cận được tinh hoa văn hoá kinh doanh thế giới là nhiệm vụ trọng tâm, lâu dài trong xây dựng đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam. Lấy đạo đức, văn hoá kinh doanh làm cốt lõi, đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật; nâng cao vai trò của doanh nhân đóng góp cho ngoại giao kinh tế, đối ngoại nhân dân, quảng bá hình ảnh đất nước, con người, văn hoá Việt Nam.
- Nâng cao ý thức, trách nhiệm của doanh nhân, doanh nghiệp đối với xã hội, nhất là trong cung ứng sản phẩm, dịch vụ bảo đảm chất lượng; giữ gìn uy tín, thương hiệu doanh nghiệp; chú trọng bảo vệ môi trường; lên án, ngăn chặn, kiên quyết xử lý doanh nhân, doanh nghiệp vi phạm đạo đức, văn hoá kinh doanh, vi phạm pháp luật. Đồng thời, khuyến khích doanh nhân, doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội, tham gia tích cực các hoạt động giúp đỡ cho người có hoàn cảnh khó khăn, địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.”
Như vậy NQ41 đã khái quát được những nội dung cốt lõi của đạo đức doanh nhân Việt Nam và những ai đã và sẽ là doanh nhân cần nghiên cứu, dùng chúng soi rọi cho mọi hành vi kinh doanh của mình.
Mong muốn điều tốt đẹpthay cho lời kết.
Quả thật, đạo đức nghề và đạo đức doanh nhân Việt Nam là lĩnh vực khá phức tạp, không dễ làm rõ chỉ trong một bài viết. Tuy nhiên ai trong chúng ta cũng muốn những người trong giới kinh doanh dù có được gọi là doanh nhân hay chưa đều thấm nhuần đạo đức chung nhất, đó là:
Đạo đức làm con người trong xã hội Việt Nam với bao truyền thống tốt đẹp.
Luôn tuân thủ pháp luật và quy định đạo đức cộng đồng dân cư.
Luôn ứng xử có văn hóa với mọi người.
Trung thực, giữ chữ tín trong hoạt động nghề.
Luôn có ý thức giúp đỡ những người xung quanh còn gặp khó khăn trong cuộc sống.
Luôn học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn để góp phần kinh doanh hiệu quả, sản xuất, tạo ra được nhiều sản phẩm dịch vụ chất lượng cao cho xã hội.
Chắc còn thêm những điều khác nữa nhưng chúng tôi xin dừng bài viết ở đây và mong muốn những người có dịp đọc thì góp thêm ý kiến để vấn đề bàn luận trên đây được sáng tỏ thêm.
