Bằng xuất sắc 'áp đảo', đại học làm gì để giảm lạm phát điểm số?

Khi tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc tăng cao, bài toán đặt ra không phải kéo tỷ lệ này xuống bằng mọi giá, mà làm sao để điểm số phản ánh đúng năng lực người học.

Lời Tòa soạn:

Tấm bằng giỏi, xuất sắc là sự ghi nhận cho nỗ lực học tập của sinh viên. Tuy nhiên, khi tỷ lệ tốt nghiệp xuất sắc tại nhiều trường ngày càng cao, nhiều người lo lắng về việc “lạm phát” bằng giỏi, bằng xuất sắc. Tuyến bài “Tỷ lệ bằng giỏi, xuất sắc cao có phản ánh thực chất?” của VietNamNet tìm hiểu nguyên nhân chênh lệch tỷ lệ xếp loại tốt nghiệp, đồng thời đặt vấn đề làm thế nào để điểm số phản ánh đúng năng lực người học và giữ vững chất lượng đào tạo.

Khi tỷ lệ xuất sắc tăng bất thường, phải rà soát

Trong công văn gửi các trường đại học, cao đẳng sư phạm mới đây, Bộ GD-ĐT yêu cầu phát hiện, kiểm tra và xử lý tình trạng “lạm phát” điểm số. Đặc biệt, các trường không áp đặt tỷ lệ điểm hoặc tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc, không hạ chuẩn để chạy theo thành tích.

Trước yêu cầu này, TS Nguyễn Trung Nhân, Trưởng phòng Đào tạo Trường Đại học Công nghiệp TPHCM, cho rằng các trường cần theo dõi dữ liệu điểm số theo từng học kỳ, đặc biệt chú ý đến tỷ lệ sinh viên giỏi, xuất sắc. Khi tỷ lệ này tăng bất thường, nhà trường cần rà soát và nâng yêu cầu đánh giá để bảo đảm sinh viên giỏi thực chất về năng lực, không chỉ cao về điểm số.

Tại Trường Đại học Công nghiệp TPHCM, dữ liệu này được phân tích theo từng chương trình đào tạo mỗi học kỳ. Bên cạnh nhóm sinh viên có kết quả học tập yếu cần được hỗ trợ, trường cũng chú ý đến nhóm giỏi, xuất sắc để rà soát chất lượng đánh giá. Ông Nhân cho biết nhà trường đã theo dõi chỉ số này khoảng 5-6 năm.

“Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo vốn là yêu cầu tối thiểu. Nếu kết quả học tập cho thấy tỷ lệ điểm giỏi ở một ngành có dấu hiệu tăng, phòng đào tạo sẽ làm việc với đơn vị chuyên môn để điều chỉnh cách đánh giá, bảo đảm sinh viên đạt điểm cao phải đáp ứng yêu cầu tương xứng, nhằm phân loại đúng năng lực người học”, ông Nhân nói.

Theo ông, nếu lãnh đạo không nhận diện được xu hướng tăng điểm hoặc không chủ động cải tiến, tình trạng tỷ lệ sinh viên giỏi, xuất sắc tăng cao có thể kéo dài.

Sinh viên tốt nghiệp đại học. Ảnh: HUST

Sinh viên tốt nghiệp đại học. Ảnh: HUST

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng cho rằng các trường không nên áp dụng tỷ lệ xếp loại một cách cơ học. Thay vào đó, theo TS Hoàng Anh Tuấn, Phụ trách Phòng Đào tạo, Trường Quản trị và Kinh doanh, Đại học Quốc gia Hà Nội, điều quan trọng hơn là chuẩn đầu ra phải rõ ràng, đề thi và hình thức thi phải đo được năng lực thực chất chứ không chỉ kiểm tra khả năng ghi nhớ. Quá trình đánh giá cũng cần có cơ chế kiểm soát độc lập.

Với những chương trình thường xuyên gặp tình trạng chênh lệch do có quá nhiều điểm thi cao, ông Tuấn đề xuất cần áp dụng điều chỉnh điểm theo phân phối chuẩn. Cách làm này được áp dụng tại một số trường đại học trên thế giới, chẳng hạn ở Australia, để đảm bảo việc lạm phát điểm không xảy ra. 

Chuyên gia giáo dục độc lập Bùi Khánh Nguyên cũng đề xuất sử dụng “bách phân vị” (percentile) để xác định vị trí tương đối của sinh viên trong một nhóm dựa trên điểm số. Chẳng hạn, điểm của thí sinh ở bách phân vị 99%, tức kết quả của sinh viên cao hơn 99% số người trong nhóm và thuộc nhóm 1% giỏi nhất.

Bằng cách này có thể đánh giá thực chất năng lực của sinh viên và nhà tuyển dụng cũng có thêm thông tin để đánh giá thành tích ứng viên trong tương quan với những người khác.

Cần đánh giá thực chất, phù hợp với yêu cầu doanh nghiệp

Trong khi đó, ThS Phạm Thái Sơn, Giám đốc tuyển sinh Trường Đại học Công Thương TPHCM lại cho rằng trước khi “siết” chất lượng đầu ra bằng cách ra đề khó hơn, chấm chặt hơn hay nâng chuẩn đánh giá, các trường cần xác định doanh nghiệp cần gì.

“Yêu cầu giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể khác nhau. Vì vậy, chuẩn đầu ra cũng cần bám sát ngành nghề và vị trí việc làm”, ông Sơn nói.

Ông cũng cho rằng trường đại học phải khảo sát nhu cầu tuyển dụng theo từng nhóm doanh nghiệp, ngành nghề và vị trí việc làm để thiết kế chương trình phù hợp. Doanh nghiệp cũng cần tham gia xây dựng chuẩn đầu ra, giao bài toán thực tế và đánh giá năng lực sinh viên.

Chất lượng không thể chỉ đo bằng điểm số. Sinh viên công nghệ thông tin phải làm được sản phẩm, sinh viên marketing phải triển khai được chiến dịch, sinh viên công nghệ thực phẩm phải thực hiện được quy trình chuyên môn.

Do đó, mỗi ngành nên có một “hộ chiếu năng lực tốt nghiệp”, xác định rõ sinh viên phải biết gì, làm được gì và có sản phẩm nào chứng minh năng lực. Cách tiếp cận này giúp chuyển trọng tâm từ thành tích trên bảng điểm sang những gì người học thực sự có thể thực hiện.

“Khi đó, điểm số cao mới thực sự có ý nghĩa, thay vì chỉ đẹp trên bảng thống kê”, ông nói.

Đồng quan điểm, TS Hoàng Anh Tuấn cho rằng các trường cần ghi nhận những thành tích nghiên cứu, dự án khởi nghiệp… để đánh giá toàn diện quá trình học tập, cố gắng, nỗ lực và tiến bộ của sinh viên. Đây là những thông tin có nhiều ý nghĩa đối với nhà tuyển dụng để có thể đánh giá sinh viên toàn diện hơn.

Bên cạnh đó, các trường đại học cũng cần tăng cường tiếp nhận phản hồi định kỳ của doanh nghiệp nơi sinh viên thực tập, làm việc sau tốt nghiệp. Điều này giúp nhà trường đánh giá được khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động của sinh viên, bởi điểm số cao không đồng nghĩa với khả năng giải quyết công việc cho doanh nghiệp.

Theo các chuyên gia, những giải pháp này không nhằm hạ tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp giỏi, xuất sắc “bằng mọi giá”. Điều quan trọng, tấm bằng sẽ đi kèm năng lực tương xứng. Khi cách đánh giá minh bạch, chuẩn đầu ra cụ thể, quá trình học gắn với yêu cầu nghề nghiệp, điểm số mới phản ánh đầy đủ, thực chất.

Bài 1: Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc nhiều hơn loại khá, việc đánh giá có dễ dãi?

Bài 2: Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp giỏi, xuất sắc tăng cao, nhà trường liệu có 'vô can'?

Thúy Nga

Lê Huyền

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/bang-xuat-sac-ap-dao-dai-hoc-lam-gi-de-giam-lam-phat-diem-so-2566744.html