Bảo đảm quyền được bồi thường của người dân không bị chậm ở khâu chi trả

(PLVN) - Có ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị việc lập dự toán và quyết toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường cần được cân nhắc kỹ hơn, bởi nếu cơ chế tài chính không vận hành được thì dù Luật rút ngắn bao nhiêu thủ tục, quyền được bồi thường của người dân cuối cùng vẫn có thể bị chậm ở khâu chi trả.

Bảo đảm quyền được bồi thường của người dân không bị chậm ở khâu chi trả

Quang cảnh phiên thảo luận chiều 10/8. (Ảnh trong bài: quochoi.vn) (PLVN) - Có ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị việc lập dự toán và quyết toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường cần được cân nhắc kỹ hơn, bởi nếu cơ chế tài chính không vận hành được thì dù Luật rút ngắn bao nhiêu thủ tục, quyền được bồi thường của người dân cuối cùng vẫn có thể bị chậm ở khâu chi trả.

Thứ Ba 11/08/2026 07:31 (GMT+7)

Chiều 10/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Góp ý về kinh phí thực hiện công tác bồi thường, Đại biểu Thái Thị An Chung (Đoàn Nghệ An) đồng tình với việc sửa đổi Điều 60 của Luật hiện hành. Tuy nhiên, nếu ngân sách Nhà nước chỉ đảm bảo cho chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại như điểm b khoản 1 là chưa hợp lý, chưa bao quát đầy đủ yêu cầu thực tế của quá trình xác minh thiệt hại.

Bởi lẽ để giải quyết một yêu cầu bồi thường, việc xác minh thiệt hại không chỉ bao gồm định giá tài sản hoặc giám định thiệt hại; cơ quan giải quyết bồi thường còn phải thu thập, xác minh, kiểm tra, đối chiếu tài liệu, chứng cứ, xác định thiệt hại thực tế, đánh giá mức độ thiệt hại, xác định nguyên nhân và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ với thiệt hại xảy ra. Đối với những vụ việc phức tạp có thể còn cần đến các hoạt động chuyên môn khác để làm rõ thiệt hại.

Đại biểu Thái Thị An Chung.

Vì vậy, Đại biểu đề nghị nghiên cứu sửa và tách điểm b khoản 1 thành hai nội dung. Cụ thể, điểm b là kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại và c là chi phí hợp lý cho hoạt động xác minh, xác định thiệt hại để giải quyết yêu cầu bồi thường, bao gồm chi phí thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ, định giá tài sản, giám định thiệt hại và các chi phí cần thiết khác theo quy định của pháp luật.

Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Lâm Đồng) lại đề nghị cân nhắc kỹ hơn quy định về việc lập dự toán và quyết toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường quy định tại khoản 29 Điều 1 sửa đổi Điều 61. Vì nếu cơ chế tài chính không vận hành được thì dù Luật rút ngắn bao nhiêu thủ tục, quyền được bồi thường của người dân cuối cùng vẫn có thể bị chậm ở khâu chi trả.

Đại biểu phân tích, khoản 1 Điều 61 của dự thảo Luật quy định: “Hằng năm, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm lập dự toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường”. Như vậy, so với cơ chế hiện hành với đầu mối lập dự toán tương đối độc lập, tương đối tập trung tại cơ quan tài chính, dự thảo chuyển sang hướng phân tán trách nhiệm lập dự toán cho các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế không phải cơ quan nào và năm nào cũng phát sinh trách nhiệm bồi thường. Nếu tất cả các cơ quan đều phải lập dự toán thì nguồn lực có nguy cơ bị chia nhỏ, trong khi khoản bồi thường lại có tính chất bất thường, rất khó dự báo chính xác.

Đại biểu ghi nhận báo cáo tiếp thu giải trình đã đánh giá các ý kiến về dự toán, tạm ứng, cấp bổ sung và quyết toán kinh phí là xác đáng, đồng thời dự kiến giao cho Chính phủ quy định chi tiết. Tuy nhiên, vấn đề này không chỉ là trình tự thủ tục giao cho Chính phủ xử lý, mà trước hết là lựa chọn mô hình bảo đảm kinh phí lập dự toán: phân tán tại từng cơ quan hay tập trung tại một đầu mối của từng cấp ngân sách? Đây là vấn đề chính sách cần được xác định rõ ngay trong Luật.

Từ đó, Đại biểu đề nghị nghiên cứu theo hướng duy trì một đầu mối dự toán tương đối tập trung, về cơ bản là cơ quan tài chính ở trung ương và địa phương, đồng thời thiết kế cơ chế dự phòng bổ sung kinh phí khi phát sinh nghĩa vụ bồi thường. Cách tiếp cận này phù hợp với đặc điểm của khoản chi bồi thường Nhà nước: tần suất phát sinh thấp nhưng giá trị của từng vụ việc có thể rất lớn và không thể dự báo chính xác theo từng cơ quan.

Đại biểu Dương Khắc Mai.

Cùng với đó, Luật cần xác lập ít nhất ba nguyên tắc: Một là phải có cơ chế cấp bổ sung kinh phí đã bố trí không đủ; Hai là phải có thời gian cụ thể để cơ quan có thẩm quyền xử lý việc cấp kinh phí; Ba là việc chưa bố trí đủ hoặc đang làm thủ tục bổ sung dự toán không được trở thành lý do kéo dài quyền nhận tiền của người bồi thường thiệt hại. Chính phủ có thể quy định hồ sơ, trình tự thủ tục nhưng các nguyên tắc này được thể hiện ngay trong Luật để đảm bảo Điều 61 vận hành đồng bộ với thời hạn chi trả rất ngắn tại Điều 62.

Đại biểu Thái Thị An Chung cũng góp ý về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính. Theo đó, Đại biểu thống nhất với việc sửa đổi quy định tại khoản 9 Điều 17: “Thực hiện hành vi trái pháp luật trong hoạt động quản lý thuế và các khoản thu khác theo Luật Quản lý thuế”. Quy định này khắc phục được hạn chế của phương pháp liệt kê, tránh bỏ sót những trường hợp người nộp thuế thực tế bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý thuế nhưng không thuộc 4 nhóm hành vi như Luật hiện hành.

Mặt khác, việc dẫn chiếu trực tiếp đến hoạt động quản lý thuế và các khoản thu khác theo Luật Quản lý thuế tạo sự thống nhất giữa hai Luật, đồng thời có tính linh hoạt, tránh tình trạng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phải liên tục sửa đổi mỗi khi pháp luật quản lý thuế phát sinh hoặc bổ sung hình thức quản lý mới. Qua đó đảm bảo tốt hơn nguyên tắc mọi thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra phải được xem xét bồi thường theo quy định của pháp luật.

Cùng nêu vấn đề, Đại biểu Hà Sỹ Huân (Đoàn Thái Nguyên) lại phân tích, dự thảo sửa đổi Điều 17 vẫn được thiết kế theo phương pháp liệt kê các trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường. Trong khi đó, hệ thống pháp luật quản lý hành chính thường xuyên được sửa đổi, bổ sung; nhiều luật chuyên ngành tiếp tục giao thêm thẩm quyền quản lý nhà nước hoặc phát sinh các quyết định, hành vi hành chính mới.

Nếu chỉ quy định theo phương pháp liệt kê, có thể phát sinh các trường hợp hành vi trái pháp luật gây thiệt hại nhưng chưa thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật, dẫn đến phải tiếp tục sửa Luật khi các luật chuyên ngành thay đổi. Đại biểu đề nghị rà soát Điều 17 trên cơ sở đối chiếu toàn diện đối với các luật chuyên ngành có liên quan để đảm bảo không bỏ sót các trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường đã được pháp luật quy định. Đồng thời nghiên cứu cơ chế dẫn chiếu quy định phù hợp nhằm đảm bảo tính ổn định, thống nhất của Luật khi các luật chuyên ngành được sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.

Mai Hoàng

Chiều 10/8, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Góp ý về kinh phí thực hiện công tác bồi thường, Đại biểu Thái Thị An Chung (Đoàn Nghệ An) đồng tình với việc sửa đổi Điều 60 của Luật hiện hành. Tuy nhiên, nếu ngân sách Nhà nước chỉ đảm bảo cho chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại như điểm b khoản 1 là chưa hợp lý, chưa bao quát đầy đủ yêu cầu thực tế của quá trình xác minh thiệt hại.

Bởi lẽ để giải quyết một yêu cầu bồi thường, việc xác minh thiệt hại không chỉ bao gồm định giá tài sản hoặc giám định thiệt hại; cơ quan giải quyết bồi thường còn phải thu thập, xác minh, kiểm tra, đối chiếu tài liệu, chứng cứ, xác định thiệt hại thực tế, đánh giá mức độ thiệt hại, xác định nguyên nhân và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ với thiệt hại xảy ra. Đối với những vụ việc phức tạp có thể còn cần đến các hoạt động chuyên môn khác để làm rõ thiệt hại.

Đại biểu Thái Thị An Chung.

Vì vậy, Đại biểu đề nghị nghiên cứu sửa và tách điểm b khoản 1 thành hai nội dung. Cụ thể, điểm b là kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại và c là chi phí hợp lý cho hoạt động xác minh, xác định thiệt hại để giải quyết yêu cầu bồi thường, bao gồm chi phí thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ, định giá tài sản, giám định thiệt hại và các chi phí cần thiết khác theo quy định của pháp luật.

Đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Lâm Đồng) lại đề nghị cân nhắc kỹ hơn quy định về việc lập dự toán và quyết toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường quy định tại khoản 29 Điều 1 sửa đổi Điều 61. Vì nếu cơ chế tài chính không vận hành được thì dù Luật rút ngắn bao nhiêu thủ tục, quyền được bồi thường của người dân cuối cùng vẫn có thể bị chậm ở khâu chi trả.

Đại biểu phân tích, khoản 1 Điều 61 của dự thảo Luật quy định: “Hằng năm, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm lập dự toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường”. Như vậy, so với cơ chế hiện hành với đầu mối lập dự toán tương đối độc lập, tương đối tập trung tại cơ quan tài chính, dự thảo chuyển sang hướng phân tán trách nhiệm lập dự toán cho các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế không phải cơ quan nào và năm nào cũng phát sinh trách nhiệm bồi thường. Nếu tất cả các cơ quan đều phải lập dự toán thì nguồn lực có nguy cơ bị chia nhỏ, trong khi khoản bồi thường lại có tính chất bất thường, rất khó dự báo chính xác.

Đại biểu ghi nhận báo cáo tiếp thu giải trình đã đánh giá các ý kiến về dự toán, tạm ứng, cấp bổ sung và quyết toán kinh phí là xác đáng, đồng thời dự kiến giao cho Chính phủ quy định chi tiết. Tuy nhiên, vấn đề này không chỉ là trình tự thủ tục giao cho Chính phủ xử lý, mà trước hết là lựa chọn mô hình bảo đảm kinh phí lập dự toán: phân tán tại từng cơ quan hay tập trung tại một đầu mối của từng cấp ngân sách? Đây là vấn đề chính sách cần được xác định rõ ngay trong Luật.

Từ đó, Đại biểu đề nghị nghiên cứu theo hướng duy trì một đầu mối dự toán tương đối tập trung, về cơ bản là cơ quan tài chính ở trung ương và địa phương, đồng thời thiết kế cơ chế dự phòng bổ sung kinh phí khi phát sinh nghĩa vụ bồi thường. Cách tiếp cận này phù hợp với đặc điểm của khoản chi bồi thường Nhà nước: tần suất phát sinh thấp nhưng giá trị của từng vụ việc có thể rất lớn và không thể dự báo chính xác theo từng cơ quan.

Đại biểu Dương Khắc Mai.

Cùng với đó, Luật cần xác lập ít nhất ba nguyên tắc: Một là phải có cơ chế cấp bổ sung kinh phí đã bố trí không đủ; Hai là phải có thời gian cụ thể để cơ quan có thẩm quyền xử lý việc cấp kinh phí; Ba là việc chưa bố trí đủ hoặc đang làm thủ tục bổ sung dự toán không được trở thành lý do kéo dài quyền nhận tiền của người bồi thường thiệt hại. Chính phủ có thể quy định hồ sơ, trình tự thủ tục nhưng các nguyên tắc này được thể hiện ngay trong Luật để đảm bảo Điều 61 vận hành đồng bộ với thời hạn chi trả rất ngắn tại Điều 62.

Đại biểu Thái Thị An Chung cũng góp ý về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính. Theo đó, Đại biểu thống nhất với việc sửa đổi quy định tại khoản 9 Điều 17: “Thực hiện hành vi trái pháp luật trong hoạt động quản lý thuế và các khoản thu khác theo Luật Quản lý thuế”. Quy định này khắc phục được hạn chế của phương pháp liệt kê, tránh bỏ sót những trường hợp người nộp thuế thực tế bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền trong quản lý thuế nhưng không thuộc 4 nhóm hành vi như Luật hiện hành.

Mặt khác, việc dẫn chiếu trực tiếp đến hoạt động quản lý thuế và các khoản thu khác theo Luật Quản lý thuế tạo sự thống nhất giữa hai Luật, đồng thời có tính linh hoạt, tránh tình trạng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước phải liên tục sửa đổi mỗi khi pháp luật quản lý thuế phát sinh hoặc bổ sung hình thức quản lý mới. Qua đó đảm bảo tốt hơn nguyên tắc mọi thiệt hại do hành vi công vụ trái pháp luật gây ra phải được xem xét bồi thường theo quy định của pháp luật.

Cùng nêu vấn đề, Đại biểu Hà Sỹ Huân (Đoàn Thái Nguyên) lại phân tích, dự thảo sửa đổi Điều 17 vẫn được thiết kế theo phương pháp liệt kê các trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường. Trong khi đó, hệ thống pháp luật quản lý hành chính thường xuyên được sửa đổi, bổ sung; nhiều luật chuyên ngành tiếp tục giao thêm thẩm quyền quản lý nhà nước hoặc phát sinh các quyết định, hành vi hành chính mới.

Nếu chỉ quy định theo phương pháp liệt kê, có thể phát sinh các trường hợp hành vi trái pháp luật gây thiệt hại nhưng chưa thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật, dẫn đến phải tiếp tục sửa Luật khi các luật chuyên ngành thay đổi. Đại biểu đề nghị rà soát Điều 17 trên cơ sở đối chiếu toàn diện đối với các luật chuyên ngành có liên quan để đảm bảo không bỏ sót các trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường đã được pháp luật quy định. Đồng thời nghiên cứu cơ chế dẫn chiếu quy định phù hợp nhằm đảm bảo tính ổn định, thống nhất của Luật khi các luật chuyên ngành được sửa đổi, bổ sung trong thời gian tới.

Mai Hoàng

(PLVN) - Có ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị việc lập dự toán và quyết toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường cần được cân nhắc kỹ hơn, bởi nếu cơ chế tài chính không vận hành được thì dù Luật rút ngắn bao nhiêu thủ tục, quyền được bồi thường của người dân cuối cùng vẫn có thể bị chậm ở khâu chi trả.

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/bao-dam-quyen-duoc-boi-thuong-cua-nguoi-dan-khong-bi-cham-o-khau-chi-tra.html