Bảo đảm quyền lợi người tham gia khi chuyển đổi sử dụng số căn cước công dân thay thế mã số bảo hiểm xã hội
Ngày 27/8, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức hội nghị trực tuyến tập huấn, triển khai chuyển đổi sử dụng số định danh cá nhân/căn cước công dân thay thế mã số bảo hiểm xã hội và bộ mã quản lý trên các phần mềm nghiệp vụ của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Toàn cảnh hội nghị trực tuyến toàn quốc. (Ảnh: nhandan.vn)
Bảo đảm dữ liệu chính xác, vận hành hệ thống ổn định
Phát biểu ý kiến tại hội nghị, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Chu Mạnh Sinh cho biết, việc chuyển đổi sử dụng số định danh cá nhân/căn cước công dân thay thế mã số bảo hiểm xã hội và bộ mã quản lý là nhiệm vụ có phạm vi toàn hệ thống, tác động trực tiếp đến dữ liệu người tham gia, người hưởng và quá trình giải quyết các chế độ, chính sách.

Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Chu Mạnh Sinh phát biểu tại hội nghị. (Ảnh:nhandan.vn)
"Vì vậy, yêu cầu xuyên suốt là phải triển khai đúng tiến độ, chính xác, an toàn, đồng bộ, bảo toàn đầy đủ dữ liệu và không làm gián đoạn hoạt động nghiệp vụ, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia, người hưởng chính sách" - Phó Giám đốc Chu Mạnh Sinh nhấn mạnh.
Đối với người tham gia và người hưởng, có thể hiểu đây là việc thay đổi cách hệ thống nhận diện, quản lý thông tin trên các phần mềm nghiệp vụ. Quá trình chuyển đổi phải bảo đảm tính toàn vẹn dữ liệu, kế thừa đầy đủ lịch sử giao dịch, quá trình tham gia, quá trình hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các hồ sơ điện tử đã phát sinh; không để việc chuyển đổi hệ thống trở thành nguyên nhân làm chậm hoặc gián đoạn việc giải quyết quyền lợi của người tham gia.
Theo đó, việc chuyển đổi sử dụng số định danh cá nhân/căn cước công dân thay thế mã số bảo hiểm xã hội theo hai giai đoạn.
Giai đoạn 1: Chuẩn hóa dữ liệu, chuẩn bị hệ thống (từ ngày 15/8/2026 đến trước ngày 1/9/2026), toàn hệ thống tập trung hoàn thành việc chuẩn hóa dữ liệu người tham gia, đơn vị tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo đảm đủ điều kiện chuyển đổi sang số định danh cá nhân/căn cước công dân và bộ mã quản lý. Đồng thời, hoàn thành nâng cấp, kiểm thử phần mềm, chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật, sao lưu dữ liệu, phương án khôi phục và kịch bản xử lý sự cố.
Trong giai đoạn này, các đơn vị tập trung rà soát, cập nhật, điều chỉnh, “làm sạch”, “chuẩn hóa” dữ liệu người tham gia chưa có số định danh cá nhân/căn cước công dân, chưa được xác thực hoặc có thông tin chưa khớp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Các sai lệch phải được xác định và xử lý trước khi chuyển đổi để hạn chế lỗi phát sinh khi hệ thống vận hành theo mã nhận diện mới.
Giai đoạn 2: Chuyển đổi dữ liệu và vận hành (bắt đầu từ ngày 1/9/2026), thực hiện chuyển đổi tập trung trên toàn bộ các hệ thống nghiệp vụ.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu trong từng đợt chuyển đổi phải kiểm tra kết quả, theo dõi các trường hợp chưa chuyển đổi thành công, phân tích nguyên nhân và xử lý kịp thời. Những vấn đề có khả năng ảnh hưởng đến tiến độ, an toàn dữ liệu hoặc quyền lợi của người tham gia, người hưởng phải được báo cáo, phối hợp xử lý ngay.
Bảo hiểm xã hội các địa phương chủ động, quyết liệt triển khai chuyển đổi

Ảnh HSS.
Đối với Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố, Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tập trung tiếp thu đầy đủ nội dung được phổ biến, hướng dẫn tại Hội nghị và nghiêm túc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trách nhiệm của người đứng đầu phải gắn với kết quả triển khai; phân công rõ đơn vị chủ trì, cán bộ đầu mối và thời hạn hoàn thành; tăng cường phối hợp giữa các bộ phận nghiệp vụ và công nghệ thông tin, chủ động xử lý khó khăn, không để phát sinh điểm nghẽn ảnh hưởng đến tiến độ chung và quyền lợi của người tham gia.
Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh phải trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả triển khai tại địa phương. Mỗi địa phương phải xây dựng phương án cụ thể, phân công rõ lãnh đạo phụ trách, đơn vị nghiệp vụ, Bảo hiểm xã hội cơ sở và cán bộ đầu mối.
Trước thời điểm chuyển đổi, Bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố phải tập trung cao nhất cho việc rà soát, làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu; xác định rõ nguyên nhân và cán bộ xử lý đối với từng trường hợp chưa đủ điều kiện. Không để tồn tại các trường hợp dữ liệu chưa xử lý nhưng không rõ nguyên nhân hoặc không rõ đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm.
Trong quá trình vận hành, các địa phương phải theo dõi hằng ngày số trường hợp chuyển đổi chưa thành công, phân tích nguyên nhân và cập nhật kết quả xử lý. Khi phát sinh vấn đề có khả năng ảnh hưởng đến tiến độ, an toàn dữ liệu hoặc quyền lợi của người tham gia, người hưởng, đơn vị phải báo cáo và phối hợp xử lý kịp thời, không để tồn đọng kéo dài sau từng đợt chuyển đổi.
Bảo đảm quyền lợi người tham gia trong suốt quá trình chuyển đổi
Bảo hiểm xã hội Việt Nam xác định việc duy trì liên tục hoạt động nghiệp vụ và bảo đảm quyền lợi của người tham gia, người hưởng là yêu cầu bắt buộc trong suốt quá trình chuyển đổi. Các hồ sơ liên quan đến giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, thu, cấp sổ, thẻ, giao dịch điện tử và chi trả phải được xử lý thông suốt.
Trường hợp phát sinh vướng mắc do chuyển đổi mã số hoặc đồng bộ dữ liệu, các đơn vị phải chủ động phối hợp khắc phục, ưu tiên xử lý không để người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng quyền lợi do nguyên nhân từ việc chuyển đổi hệ thống. Cùng với đó, các đơn vị nghiệp vụ và công nghệ thông tin phải phối hợp kiểm thử, đồng bộ dữ liệu, phát hiện và xử lý kịp thời lỗi phát sinh, hạn chế tối đa nguy cơ ảnh hưởng đến hoạt động nghiệp vụ.
Tại hội nghị, các đại biểu cũng được hướng dẫn sử dụng các phần mềm liên quan và trao đổi, giải đáp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai. Qua đó, Bảo hiểm xã hội Việt Nam thống nhất nhận thức, phương pháp thực hiện và trách nhiệm trong toàn hệ thống, hướng tới chuyển đổi sử dụng số định danh cá nhân/căn cước công dân thay thế mã số bảo hiểm xã hội và bộ mã quản lý đồng bộ, chính xác, an toàn, thông suốt; góp phần đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm việc giải quyết các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp không bị gián đoạn, không ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người tham gia, người hưởng.

