Bảo đảm tăng trưởng hai con số tại Trung du và miền núi phía Bắc

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc đang đứng trước đòi hỏi cấp bách phải đổi mới mạnh mẽ tư duy lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành.

Động lực then chốt được xác định là lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số cùng nguồn nhân lực chất lượng cao làm bệ phóng; đồng thời, khơi thông mọi nguồn lực, triển khai hiệu quả các chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ, để đưa vùng đất phên dậu của Tổ quốc vươn mình bứt phá.

Đẩy nhanh tiến độ thi công cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng để giải ngân 2.200 tỷ đồng vừa được Thủ tướng Chính phủ giao bổ sung vào cuối tháng 6/2026. Ảnh: Văn Đạt/TTXVN

Đẩy nhanh tiến độ thi công cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị - Chi Lăng để giải ngân 2.200 tỷ đồng vừa được Thủ tướng Chính phủ giao bổ sung vào cuối tháng 6/2026. Ảnh: Văn Đạt/TTXVN

Điểm sáng giải ngân đầu tư công

Năm 2026, vùng Trung du và miền núi phía Bắc tiếp tục nhận được sự quan tâm đặc biệt của Trung ương với tổng kế hoạch đầu tư công được Thủ tướng Chính phủ giao lên tới 69.926,144 tỷ đồng. Trong cơ cấu này, nguồn vốn đầu tư trong cân đối ngân sách địa phương đạt 40.161,900 tỷ đồng. Với tinh thần chủ động cao, các địa phương trong vùng đã quyết liệt triển khai phân bổ thực tế lên tới 45.907,998 tỷ đồng, vượt 5.746,098 tỷ đồng so với kế hoạch Thủ tướng giao.

Đối với nguồn vốn ngân sách Trung ương là 29.764,244 tỷ đồng, phân bổ vốn trong nước đạt 27.372,125 tỷ đồng (đã triển khai 22.622,605 tỷ đồng) và vốn nước ngoài (ODA) đạt 2.392,119 tỷ đồng (đã triển khai 2.279,820 tỷ đồng). Đáng chú ý, kết quả giải ngân các nguồn vốn của 9 địa phương trong vùng tính đến hết ngày 30/9/2026 đạt 44.385,190 tỷ đồng, tương đương 63,5% kế hoạch Thủ tướng giao. Con số này không chỉ khẳng định nỗ lực vượt bậc của toàn vùng, mà còn ghi nhận mức giải ngân cao hơn tỷ lệ bình quân chung của cả nước (62,9%).

Theo Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà, để duy trì nhịp độ tăng trưởng 2 con số bền vững, nhiệm vụ hàng đầu là phải thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công năm 2026 trên tinh thần “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ hiệu quả. Từng dự án phải gắn chặt với trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu và lấy kết quả giải ngân làm thước đo đánh giá KPI công vụ. Đặc biệt, đầu tư công phải phát huy tối đa vai trò là “vốn mồi” dẫn dắt, kích hoạt các dòng vốn đầu tư ngoài Nhà nước theo nguyên tắc không bố trí vốn ngân sách vào các lĩnh vực khu vực tư nhân có thể tự đầu tư. Cùng với đó, các cấp chính quyền phải chủ động bảo đảm nguồn cung vật liệu, kiểm soát chặt chẽ giá cả nguyên, nhiên vật liệu xây dựng, tránh để đội vốn hay chậm tiến độ các công trình trọng điểm.

Về xuất khẩu và kinh tế cửa khẩu, các tỉnh có lợi thế biên giới như Lào Cai, Lạng Sơn cần đẩy mạnh hiện đại hóa quy trình xuất nhập khẩu, phát huy vai trò cầu nối thương mại chiến lược giữa Việt Nam, các nước ASEAN với thị trường Tây Nam - Trung Quốc. Việc tận dụng tối đa các hiệp định thương mại tự do (FTA) và phát triển bền vững thị trường Trung Quốc thông qua xuất khẩu chính ngạch là hướng đi bắt buộc.

Muốn vậy, bài toán đặt ra là phải đầu tư đồng bộ hạ tầng cho 5 khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm, xây dựng hệ thống logistics chuyên nghiệp, kho ngoại quan quy mô lớn và đẩy nhanh mô hình “cửa khẩu số”, “cửa khẩu thông minh”. Điều này sẽ rút ngắn tối đa thời gian thông quan, giảm thiểu chi phí logistics cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, vùng cần phát huy các mặt hàng chủ lực, đẩy mạnh công nghiệp điện tử, công nghệ cao tại Thái Nguyên, Phú Thọ gắn kết với chuỗi cung ứng vùng đồng bằng sông Hồng; đồng thời mở rộng vùng nguyên liệu, nâng cao tỷ lệ chế biến sâu nông, lâm sản giá trị cao tại Sơn La, Tuyên Quang.

Về tiêu dùng và du lịch, các tỉnh như: Lào Cai, Lạng Sơn, Phú Thọ, Điện Biên... cần tập trung kích cầu du lịch chất lượng cao, lấy các khu du lịch quốc gia làm hạt nhân lan tỏa, gắn chặt phát triển kinh tế với bảo tồn di sản văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Dồn lực phát triển giao thông

Một trong những khâu đột phá mang tính sống còn là hoàn thiện thể chế và tháo gỡ điểm nghẽn pháp lý. Các địa phương cần bám sát Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV và Nghị quyết số 109/NQ-CP của Chính phủ để rà soát, đề xuất hoàn thiện các quy định về đầu tư, xây dựng, nhà ở, đất đai và bảo vệ môi trường; đặc biệt khẩn trương tháo gỡ các vướng mắc phát sinh sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, quyết liệt cắt giảm thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh không phù hợp.

Các mũi thi công khẩn trương triển khai hạng mục cầu Hòa Sơn thuộc gói thầu XL03 cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu. Ảnh: Tạ Toàn/TTXVN

Các mũi thi công khẩn trương triển khai hạng mục cầu Hòa Sơn thuộc gói thầu XL03 cao tốc Hòa Bình – Mộc Châu. Ảnh: Tạ Toàn/TTXVN

Đồng thời, cần cụ thể hóa chính sách hỗ trợ theo ngành, ưu tiên bố trí nguồn lực theo hình thức đối tác công tư (PPP) cho các dự án kết nối cao tốc, quốc lộ gắn với các trục du lịch và vùng chuyên canh xuất khẩu; triệt để thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên trong năm 2026 để dành nguồn lực tối đa cho đầu tư phát triển.

Bên cạnh đó, việc tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng giao thông liên kết vùng được xác định là chìa khóa mở đường cho kinh tế cất cánh. Toàn vùng đang khẩn trương phối hợp với các bộ, ngành đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị và thi công các dự án mang tầm vóc thế kỷ. Điển hình là tuyến đường sắt tiêu chuẩn Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng theo Nghị quyết số 40/2026/QH16 ngày 24/8/2026 của Quốc hội; khẩn trương hoàn thiện nghiên cứu tuyến đường sắt tốc độ cao Lạng Sơn - Hà Nội; đầu tư xây dựng Cảng hàng không Sa Pa và nâng cấp tuyến vận tải thủy nội địa Việt Trì - Yên Bái - Lào Cai.

Song song đó, mạng lưới cao tốc trục dọc và trục ngang đang được tăng tốc triển khai: Các tuyến cao tốc Chợ Mới - Bắc Kạn, Cổ Tiết - Chợ Bến, nâng cấp mở rộng cao tốc Hà Nội - Lào Cai, tuyến Bảo Hà - Lai Châu, Sơn La - Điện Biên và các tuyến liên kết ngang. Mạng lưới này sẽ kết nối thông suốt các trung tâm công nghiệp, vùng nguyên liệu với các cửa khẩu quốc tế, phá vỡ thế chia cắt địa hình và khơi thông dòng chảy thương mại liên vùng.

Mặt khác, vùng cần chủ động thực hiện đồng bộ các đề án trong Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng về bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn hồ đập; kiên quyết đầu tư hệ thống cảnh báo sớm thiên tai, phòng chống sạt lở đất, lũ quét nhằm bảo vệ an toàn tính mạng và sinh kế của người dân.

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong năm 2026, từng địa phương phải chủ động rà soát kỹ lưỡng các chỉ tiêu phát triển, khẩn trương xây dựng kịch bản ứng phó cho các chỉ tiêu có nguy cơ hụt hơi; kết hợp hài hòa giữa các giải pháp kích cầu ngắn hạn với các động lực chuyển đổi xanh, phát triển năng lượng tái tạo và logistics tuần hoàn trong trung và dài hạn. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Trung ương và ý chí tự lực vươn lên, vùng Trung du và miền núi phía Bắc hoàn toàn có đủ cơ sở và xung lực để bứt phá ngoạn mục, trở thành cực tăng trưởng năng động và phồn vinh của đất nước.

V.T/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/bao-dam-tang-truong-hai-con-so-tai-trung-du-va-mien-nui-phia-bac-post1399282.html