Bảo vệ trẻ em từ những giới hạn pháp lý

Trong bối cảnh đề xuất sửa đổi Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác thu hút sự quan tâm của dư luận, việc mở rộng quyền hiến mô, tạng đối với người dưới 18 tuổi đặt ra nhiều vấn đề cần cân nhắc về pháp lý, đạo đức và quyền trẻ em. Xung quanh vấn đề này, xin giới thiệu bài viết của TS. Trần Văn Tuấn, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tập đoàn Thái Bảo, phân tích những giới hạn cần được đặt ra để bảo đảm mục tiêu nhân đạo luôn song hành với trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích tốt nhất của trẻ em.

TS. Trần Văn Tuấn

TS. Trần Văn Tuấn

ĐỪNG NHÂN DANH LÒNG NHÂN ÁI ĐỂ ĐẶT LÊN VAI TRẺ EM QUYẾT ĐỊNH HIẾN TẠNG

Bàn về đề xuất cho phép người dưới 18 tuổi hiến mô, bộ phận cơ thể dưới góc nhìn pháp lý, đạo đức và quyền con người.

Một xã hội văn minh không chỉ được đánh giá bằng số sinh mạng mà nền y học có thể cứu sống, mà còn bằng cách xã hội ấy bảo vệ những con người yếu thế nhất. Và trong số những người cần được bảo vệ trước tiên, chính là trẻ em.

Dư luận Việt Nam đang quan tâm và tranh luận về đề xuất sửa đổi Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác, trong đó có nội dung mở rộng quyền đăng ký hiến mô, tạng đối với người dưới 18 tuổi.

Tôi hiểu và trân trọng mục đích nhân đạo của hoạt động hiến, ghép tạng. Một trái tim được ghép thành công có thể cứu sống một con người. Một quả thận được hiến tặng có thể đem lại những năm tháng sống khỏe mạnh cho người bệnh. Đó là những thành tựu đáng tự hào của y học hiện đại.

Nhưng từ việc thừa nhận giá trị nhân đạo của hiến tạng đến việc cho phép trẻ em tham gia vào những quyết định liên quan đến thân thể mình là một khoảng cách pháp lý và đạo đức rất lớn.

Tôi phản đối việc mở rộng quyền hiến mô, tạng đối với trẻ em khi những nguy cơ về cưỡng ép, thao túng tâm lý, lạm dụng quyền giám hộ và thương mại hóa cơ thể chưa được kiểm soát bằng những cơ chế thực sự đáng tin cậy.

Trẻ em là chủ thể cần được bảo vệ, không phải nguồn cung cấp tạng để giải quyết sự thiếu hụt của nền y tế.

Không ai phủ nhận thực tế rằng Việt Nam đang thiếu nguồn tạng phục vụ điều trị. Nhưng sự thiếu hụt ấy không thể trở thành lý do để hạ thấp những hàng rào bảo vệ trẻ em.

Trẻ em chưa phát triển đầy đủ về nhận thức, tâm lý và khả năng đánh giá hậu quả lâu dài của một quyết định y khoa phức tạp. Một đứa trẻ có thể hiểu rằng hiến tạng là cứu người. Nhưng liệu em có đủ khả năng nhận thức toàn diện về rủi ro y khoa, những hệ quả pháp lý, áp lực gia đình và ý nghĩa của một quyết định không thể đảo ngược?

Đặc biệt, trẻ em thường có xu hướng tin tưởng, vâng lời và mong muốn làm hài lòng cha mẹ. Trong hoàn cảnh đó, ranh giới giữa sự tự nguyện và sự phục tùng có thể trở nên vô cùng mong manh.

Một đứa trẻ đồng ý vì thương cha mẹ, vì sợ làm người thân thất vọng, hay vì được dạy rằng phải hy sinh cho người khác, liệu có thực sự đang đưa ra một quyết định độc lập?

Không phải mọi lời đồng ý đều là biểu hiện của ý chí tự do. Và không phải mọi sự hy sinh được ca ngợi đều là một sự hy sinh hoàn toàn tự nguyện.

Quyền của cha mẹ không phải là quyền định đoạt thân thể con cái.

Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục, bảo vệ con cái. Nhưng quyền đại diện không đồng nghĩa với quyền sở hữu hay quyền định đoạt tuyệt đối đối với thân thể của trẻ.

Hãy hình dung một gia đình có hai người con. Một người mắc bệnh hiểm nghèo cần ghép mô; người còn lại có khả năng hiến phù hợp. Trong hoàn cảnh đau đớn ấy, cha mẹ có thể vô tình hoặc cố ý tạo áp lực lên đứa trẻ khỏe mạnh bằng những lời kêu gọi tình thương và trách nhiệm gia đình.

Nếu đứa trẻ từ chối, liệu em có bị coi là ích kỷ, vô cảm, không thương anh chị em mình? Nếu đồng ý, làm sao xác định được đó là ý chí thực sự của em chứ không phải kết quả của áp lực tình cảm? Đó chính là xung đột lợi ích mà pháp luật không thể giải quyết đơn giản bằng một chữ ký đồng ý của cha mẹ.

Một đứa trẻ không có nghĩa vụ phải chứng minh tình yêu thương gia đình bằng việc chấp nhận can thiệp vào cơ thể mình.

Nguy cơ thương mại hóa cơ thể trẻ em: Không thể chỉ dựa vào những lời cam kết.

Tình trạng lợi dụng hoàn cảnh khó khăn và các hành vi mua bán người, nguy cơ trục lợi từ việc hiến mô, tạng trẻ em là vấn đề không thể xem nhẹ.

Nếu một gia đình nghèo được hứa hẹn hỗ trợ tài chính dưới hình thức trá hình, liệu sự đồng ý hiến tạng có còn thực sự tự nguyện? Nếu người giám hộ có lợi ích vật chất liên quan đến việc hiến tạng, ai sẽ bảo vệ đứa trẻ?

Không thể mặc nhiên cho rằng những hành vi ấy đang xảy ra trong hoạt động hiến ghép tạng. Nhưng đã làm luật thì phải dự liệu nguy cơ, chứ không phải đợi đến khi có nạn nhân mới tìm cách khắc phục.

Một khi mô hoặc bộ phận cơ thể trẻ đã bị lấy đi một cách trái pháp luật, không một bản án hay khoản bồi thường nào có thể xóa bỏ hoàn toàn hậu quả.

Hiến tạng sau khi chết: Vẫn cần những giới hạn pháp lý đặc biệt nghiêm ngặt.

Có ý kiến cho rằng nếu trẻ đã chết não hoặc chết tuần hoàn thì việc hiến tạng để cứu những bệnh nhân khác là một nghĩa cử cao đẹp. Tôi không phủ nhận ý nghĩa nhân đạo của việc ấy.

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở mục đích cứu người mà còn ở quy trình xác định tình trạng tử vong, sự độc lập của hội đồng chuyên môn, tính xác thực của nguyện vọng hiến và quyền quyết định của gia đình.

Cần phân biệt rõ: chết não được xác định hợp lệ là một tình trạng tử vong theo tiêu chuẩn y khoa và pháp luật; không thể đồng nhất chết não với hôn mê hay tình trạng nguy kịch còn khả năng hồi phục.

Chính vì quyết định lấy tạng là không thể đảo ngược, mọi quy trình phải bảo đảm sự độc lập giữa việc điều trị cứu sống bệnh nhân, xác định tử vong và tổ chức lấy, ghép tạng.

Không được để bất kỳ gia đình nào phải lựa chọn giữa niềm tin rằng bác sĩ đang làm tất cả để cứu con mình và nỗi lo rằng con mình có thể trở thành người hiến tạng.

Không thể lấy mục tiêu nhân đạo để biện minh cho mọi phương tiện.

Trong tranh luận về hiến tạng trẻ em, lập luận thường được đưa ra là việc hiến tạng có thể cứu sống những đứa trẻ khác. Đó là một lý do rất đáng trân trọng. Nhưng một mục tiêu nhân đạo không tự động làm cho mọi phương thức thực hiện đều trở nên đúng đắn.

Quyền được sống của bệnh nhân cần ghép tạng là vô cùng quan trọng. Song quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo vệ và lợi ích tốt nhất của trẻ em cũng quan trọng không kém.

Pháp luật không thể giải quyết sự xung đột ấy bằng cách mặc nhiên đặt nhu cầu của người nhận lên trên quyền lợi của người hiến chưa thành niên.

Sự nhân đạo chân chính không phải là yêu cầu những người yếu thế hy sinh nhiều hơn, mà là xây dựng một hệ thống đủ công bằng và đủ trách nhiệm để không ai bị buộc phải hy sinh quyền lợi chính đáng của mình.

Chính vì lẽ đó, tôi kiến nghị: Hãy đặt quyền trẻ em lên trước mục tiêu mở rộng nguồn tạng.

Thứ nhất, chưa mở rộng quyền hiến mô, tạng của người chưa thành niên nếu chưa có đánh giá tác động độc lập, toàn diện về pháp lý, y khoa, tâm lý và nguy cơ bị lợi dụng.

Thứ hai, tiếp tục duy trì nguyên tắc nghiêm cấm lấy các bộ phận cơ thể không tái sinh từ người dưới 18 tuổi đang sống; đối với mô tái sinh, chỉ xem xét những ngoại lệ thật sự cần thiết, với sự giám sát độc lập và quyền từ chối của trẻ.

Thứ ba, không coi sự đồng ý của cha mẹ hoặc người giám hộ là điều kiện đủ. Phải có cơ chế đánh giá xung đột lợi ích, kiểm tra nguy cơ cưỡng ép và bảo vệ trẻ trước mọi áp lực gia đình và xã hội.

Thứ tư, đối với trường hợp hiến sau khi chết, phải thiết lập quy trình xác định tử vong và giám sát lấy tạng độc lập, minh bạch, có khả năng kiểm tra và truy cứu trách nhiệm.

Thứ năm, tăng cường chế tài đối với hành vi môi giới, mua bán, cưỡng ép, làm giả hồ sơ, lợi dụng quyền giám hộ hoặc trục lợi từ việc hiến mô, tạng trẻ em.

Thứ sáu, ưu tiên phát triển hệ thống hiến tạng tự nguyện của người trưởng thành, nâng cao năng lực điều phối ghép tạng, đầu tư y học và xây dựng niềm tin xã hội.

Trẻ em sinh ra để được bảo vệ, không phải để gánh vác những lựa chọn của người lớn. Lòng nhân ái là một trong những phẩm chất cao quý nhất của con người. Nhưng lòng nhân ái chỉ thực sự có ý nghĩa khi xuất phát từ ý chí tự do và được đặt trên nền tảng tôn trọng phẩm giá con người.

Chúng ta có thể ca ngợi một người trưởng thành tự nguyện hiến tạng cứu người. Nhưng đối với trẻ em, trách nhiệm đầu tiên của xã hội không phải là khuyến khích các em phải noi gương hy sinh của người lớn, mà là bảo vệ các em trước những quyết định vượt quá khả năng nhận thức và tự vệ của mình.

Một đạo luật nhân văn không chỉ phải trả lời câu hỏi có thể cứu thêm bao nhiêu người, mà còn phải trả lời được câu hỏi: Ai sẽ bảo vệ đứa trẻ khi chính những người có quyền quyết định thay em lại có thể đang đứng trước những xung đột lợi ích?

Đừng để hai chữ “nhân đạo” trở thành lý do khiến xã hội giảm nhẹ trách nhiệm bảo vệ trẻ em. Bởi thước đo cao nhất của một nền pháp luật nhân văn không chỉ là khả năng cứu sống con người, mà còn là khả năng bảo vệ những con người không đủ sức tự bảo vệ mình.

TS. TRẦN VĂN TUẤN

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/bao-ve-tre-em-tu-nhung-gioi-han-phap-ly-3356886.html