Bê tông hóa và nắng nóng: Vì sao đô thị Việt Nam ngày càng khó sống?
Bê tông, nhựa đường, mật độ xây dựng cao và thiếu không gian xanh khiến đô thị tích nhiệt, chậm giải nhiệt. Khi nắng nóng cực đoan gia tăng, quy hoạch cây xanh, mặt nước và kiến trúc thích ứng khí hậu trở thành yêu cầu trực tiếp đối với chất lượng sống.
Nắng nóng tại các đô thị Việt Nam không còn chỉ là câu chuyện thời tiết theo mùa. Những khu vực xây dựng dày đặc, ít cây xanh và mặt nước đang phải đối mặt với sức ép nhiệt lớn hơn, trong khi người dân ngày càng phụ thuộc vào điều hòa để duy trì sinh hoạt.

Bê tông hóa, thiếu cây xanh khiến nhiều khu vực đô thị hấp thụ nhiệt, gia tăng sức ép nắng nóng. Ảnh: Tuấn Đông
Bản cập nhật Kịch bản biến đổi khí hậu năm 2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cảnh báo số ngày nắng nóng tại Hà Nội và TP.HCM có thể tăng mạnh trong những thập niên tới. Theo kịch bản phát thải cao, đến cuối thế kỷ, số ngày nhiệt độ vượt 35°C tại nội đô Hà Nội có thể tăng thêm 50-90 ngày, TP.HCM tăng 90-100 ngày. Nhiệt độ nội đô được dự báo tăng nhanh hơn khu vực ngoại thành do tác động kết hợp của biến đổi khí hậu và đặc điểm bề mặt đô thị.
Trong bối cảnh đó, bê tông hóa không phải nguyên nhân duy nhất khiến thành phố nóng lên, nhưng là yếu tố làm gia tăng sức ép nhiệt tại những nơi xây dựng dày đặc, thiếu cây xanh và mặt nước. Đô thị càng mất khả năng điều hòa tự nhiên, người dân càng phải đối mặt với nền nhiệt cao, nhu cầu làm mát lớn và những rủi ro sức khỏe kéo dài.
Bê tông hấp thụ nhiệt, đô thị mất khả năng giải nhiệt
Hiện tượng đảo nhiệt đô thị xảy ra khi khu vực xây dựng có nhiệt độ cao hơn vùng xung quanh. Các bề mặt như bê tông, nhựa đường và mái nhà hấp thụ bức xạ mặt trời, tích trữ nhiệt rồi phát tán chậm, khiến không gian đô thị nóng lâu hơn, đặc biệt vào chiều tối và ban đêm.
Trong khi đó, cây xanh và mặt nước giúp điều hòa vi khí hậu thông qua bóng râm, quá trình thoát hơi nước và khả năng làm giảm nhiệt độ bề mặt. Khi đất tự nhiên bị thay thế bởi các bề mặt không thấm nước, đô thị không chỉ mất khả năng làm mát mà còn giảm khả năng thấm, giữ và điều tiết nước mưa.
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa không gian xanh và đảo nhiệt tại Hà Nội, sử dụng dữ liệu vệ tinh Landsat năm 2015 và 2020, cho thấy nhiệt độ bề mặt tại khu vực không có thảm thực vật cao hơn khu vực có cây xanh khoảng 2-3°C. Kết quả này cho thấy vai trò điều hòa nhiệt của không gian xanh, đồng thời phản ánh sự khác biệt về đặc tính bề mặt giữa khu vực xây dựng và khu vực có thảm thực vật.

Nghiên cứu tại Hà Nội giai đoạn 2020-2024 cho thấy không gian xanh có thể giảm nhiệt độ bề mặt mùa hè tới 2,14°C trong phạm vi 100m, với hiệu quả làm mát suy giảm theo khoảng cách. Ảnh: Tuấn Đông
Một nghiên cứu công bố năm 2025 về cường độ làm mát của không gian xanh tại vùng đô thị Hà Nội tiếp tục lượng hóa tác động này. Phân tích dữ liệu vệ tinh giai đoạn 2020-2024 cho thấy không gian xanh có thể làm giảm nhiệt độ bề mặt mùa hè tới 2,14°C trong phạm vi 100m. Hiệu ứng làm mát suy giảm theo khoảng cách và gần như không còn ở vùng đệm khoảng 800m.
Như vậy, giá trị của cây xanh không chỉ nằm ở diện tích được thống kê trên bản đồ. Vị trí, quy mô, độ che phủ và khả năng kết nối giữa các không gian xanh quyết định mức độ người dân được hưởng lợi. Một công viên lớn ở xa khu dân cư không thể thay thế hoàn toàn những hàng cây tạo bóng mát trên đường phố, sân trường, khu dân cư hay điểm chờ giao thông.
Bài viết “Thủ đô vẫn khát bóng cây” đăng trên Nhân Dân ngày 15.6.2026 ghi nhận thực trạng nhiều tuyến đường mới có mặt cắt rộng nhưng cây còn nhỏ, thưa hoặc chưa đủ tán để tạo bóng mát. Trong khi đó, người đi bộ, người chờ đèn đỏ và công nhân làm việc ngoài trời phải tiếp xúc trực tiếp với nền nhiệt cao.
Bài báo cũng dẫn nghiên cứu năm 2025 về không gian xanh Hà Nội, cho thấy khả năng làm mát của cây xanh và công viên có thể tạo ra khác biệt đáng kể về nhiệt độ bề mặt. Khoảng cách giữa quy hoạch cây xanh và trải nghiệm thực tế của người dân vì thế trở thành vấn đề cần được giải quyết: thành phố có thể có nhiều công viên, nhưng những nơi người dân đi lại hằng ngày vẫn thiếu bóng mát.
Nắng nóng đô thị không chỉ do biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu làm nền nhiệt tăng và các đợt nóng trở nên nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, mức độ người dân phải chịu nóng còn phụ thuộc vào cách thành phố được xây dựng.

Nghiên cứu công bố tháng 7.2026 trên "Advances in Meteorology" cho thấy diện tích điểm nóng nhiệt tại Hà Nội tăng gần 40%, TP.HCM tăng khoảng 10% giai đoạn 2010-2020, tập trung ở khu vực xây dựng dày đặc và đô thị hóa. Ảnh: Tuấn Đông
Nghiên cứu “Urban Heat Intensification and Heatwave Trends in Hanoi and Ho Chi Minh City, Vietnam”, công bố tháng 7.2026 trên tạp chí Advances in Meteorology, sử dụng dữ liệu quan trắc giai đoạn 1981-2022, dữ liệu tái phân tích khí quyển và ảnh vệ tinh Landsat để đánh giá diễn biến nắng nóng, đảo nhiệt tại Hà Nội và TP.HCM.
Theo nghiên cứu, chỉ số nhiệt tăng khoảng 0,4-0,5°C mỗi thập niên. Diện tích các vùng có nhiệt độ bề mặt cao tại Hà Nội tăng gần 40% trong giai đoạn 2010-2020; tại TP.HCM tăng khoảng 10%. Các điểm nóng nhiệt tập trung ở khu vực xây dựng dày đặc, đồng thời mở rộng sang những vùng ven đô đang đô thị hóa.
Kết quả này cho thấy sức ép nhiệt không chỉ nằm ở lõi đô thị cũ. Khi đất nông nghiệp, thảm thực vật và các bề mặt tự nhiên chuyển thành khu dân cư, công trình thương mại, đường giao thông và khu công nghiệp, những vùng đô thị mới cũng có thể hình thành điểm nóng nhiệt.
Nghiên cứu đồng thời ghi nhận sự khác biệt giữa hai thành phố. Hà Nội có mức mở rộng vùng nhiệt bề mặt cao nhanh hơn trong giai đoạn nghiên cứu, trong khi TP.HCM có xu hướng tăng nhiệt trên phạm vi rộng hơn tại các khu vực chuyển đổi đất. Các tác giả lưu ý đảo nhiệt đô thị chịu tác động đồng thời của biến đổi khí hậu, thay đổi sử dụng đất và các yếu tố khí quyển quy mô lớn.
Vì vậy, không thể quy toàn bộ nắng nóng đô thị cho bê tông hóa. Nhưng quy hoạch và cấu trúc đô thị quyết định mức độ nhiệt độ nền tăng thêm tác động đến người dân. Những khu vực ít cây xanh, mật độ xây dựng cao, mặt đường rộng và thiếu không gian thông gió thường khó giảm nhiệt hơn khi nắng nóng kéo dài.
Tác động cũng không phân bố đồng đều. Người làm việc ngoài trời, người đi bộ, người cao tuổi, trẻ em và cư dân ở khu nhà có điều kiện làm mát hạn chế chịu rủi ro lớn hơn. Nắng nóng còn làm tăng nhu cầu sử dụng điều hòa, kéo theo tiêu thụ điện và nhiệt thải ra môi trường bên ngoài.

Đài phun nước và các giải pháp làm mát cục bộ khó thay thế hệ thống cây xanh, mặt nước và hạ tầng xanh đồng bộ trong đô thị. Ảnh: Tuấn Đông
Tại tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn” do Cục Biến đổi khí hậu tổ chức ngày 14.9.2026, PGS.TS Nguyễn Việt Dũng, Phó Hiệu trưởng Trường Cơ khí, Đại học Bách khoa Hà Nội, phân tích mặt trái của việc phụ thuộc vào điều hòa. Thiết bị giúp làm mát bên trong nhưng thải nhiệt ra môi trường, đồng thời tiêu thụ điện và sử dụng môi chất lạnh có tác động đến khí hậu.
Chuyên gia Nguyễn Công Thịnh, chuyên gia độc lập về môi trường xây dựng và công trình xanh, cho rằng cần giảm nhu cầu làm mát ngay từ quy hoạch và thiết kế, trong đó có mật độ xây dựng, diện tích cây xanh và mặt nước. Khu vực có vùng đệm xanh có thể góp phần giảm tác động của đảo nhiệt đô thị.
Kiến trúc sư Phan Tuấn Anh, nhà sáng lập kiêm kiến trúc sư trưởng GS Team, đề cập các giải pháp thiết kế dựa vào điều kiện tự nhiên như hướng nhà, thông gió, sân trong, giếng trời và tổ chức bóng râm giữa các công trình. Những giải pháp này giúp giảm phụ thuộc vào làm mát cơ học nếu được tính toán phù hợp ngay từ đầu.
Không gian xanh phải trở thành hạ tầng chống nóng
Hà Nội đang đặt mục tiêu phát triển hệ thống cây xanh, công viên, vườn hoa và mặt nước theo hướng liên hoàn. Theo thông tin trên Cổng Thông tin Chính phủ ngày 19.10.2026, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 nâng diện tích cây xanh đô thị lên trên 10m²/người, đồng thời phát triển mạng lưới công viên, mặt nước và hành lang sinh thái.

Nắng nóng kéo dài ảnh hưởng sinh hoạt, đi lại và sức khỏe người dân, đặc biệt tại những khu vực thiếu bóng mát. Ảnh: Tuấn Đông
Đề án quản lý, phát triển hệ thống cây xanh của Hà Nội định hướng chuyển từ quản lý từng công viên, tuyến phố riêng lẻ sang hệ thống hạ tầng xanh đa tầng, đa lớp, kết nối cây xanh đường phố, sông hồ, công viên, vành đai xanh và không gian công cộng. Thành phố cũng dự kiến rà soát quỹ đất xen kẹt, đất sau di dời cơ sở sản xuất, kho bãi và trụ sở cũ để bổ sung công viên, vườn hoa.
Đây là hướng đi cần thiết, nhưng hiệu quả chống nóng không thể chỉ được đánh giá bằng tổng diện tích cây xanh bình quân đầu người. Cần xem xét mức độ phân bố, khả năng tiếp cận, độ che phủ tán cây và sự kết nối giữa các không gian. Những khu dân cư đông người, tuyến đường có lưu lượng đi bộ cao và khu vực thiếu bóng mát cần được ưu tiên.
Cùng với công viên, cây xanh đường phố, mái xanh, mặt nước và các bề mặt thấm nước có thể góp phần giảm nhiệt và cải thiện vi khí hậu. Việc bảo vệ hồ, ao, kênh và hành lang sinh thái cũng có ý nghĩa trong điều hòa nhiệt, giữ nước và giảm nguy cơ ngập úng.
Quy hoạch xây dựng cần tính đến hướng nắng, thông gió, khoảng cách giữa các công trình và khả năng tạo bóng râm. Các khu đô thị mới không nên chỉ đáp ứng chỉ tiêu cây xanh trên bản vẽ mà cần bảo đảm cây có điều kiện sinh trưởng, đủ không gian phát triển tán và được duy trì lâu dài.
Với khu vực hiện hữu, giải pháp có thể bắt đầu từ những nơi người dân chịu nóng trực tiếp: bổ sung bóng mát tại vỉa hè, điểm chờ xe buýt, sân trường, khu vui chơi, bãi đỗ xe và các tuyến đi bộ. Những khoảng xanh nhỏ, nếu được bố trí đúng vị trí và kết nối, có thể đem lại lợi ích thiết thực hơn một mảng xanh lớn nhưng khó tiếp cận.


Bên cạnh quy hoạch, quản lý cây xanh đô thị cần được thực hiện đồng bộ, từ lựa chọn chủng loại, chăm sóc, đánh giá sức khỏe, chất lượng đất, khả năng chống chịu thời tiết cực đoan đến kiểm soát nguy cơ gãy đổ, bảo đảm cây phát triển bền vững và phát huy hiệu quả che mát, điều hòa vi khí hậu. Ảnh: Tuấn Đông
Bên cạnh quy hoạch, quản lý cây xanh cũng cần chuyển sang đánh giá sức khỏe cây, chất lượng đất, khả năng chống chịu và rủi ro gãy đổ. Hà Nội đang định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu số, theo dõi cây đến từng cá thể, kiểm tra an toàn và ứng dụng công nghệ để phát hiện nguy cơ. Phát triển hạ tầng xanh không chỉ là trồng mới mà còn là chăm sóc, bảo vệ và duy trì khả năng làm mát của hệ thống cây hiện hữu.
Một đô thị đáng sống không thể chỉ được đo bằng tốc độ xây dựng, số lượng cao ốc hay quy mô đường giao thông. Khi mùa nóng kéo dài và nền nhiệt cực đoan tăng, chất lượng quy hoạch còn thể hiện ở việc người dân có thể đi bộ dưới bóng cây, tiếp cận công viên gần nhà, sử dụng không gian công cộng và giảm phụ thuộc vào điều hòa.
Bê tông vẫn là vật liệu cần thiết cho phát triển đô thị. Vấn đề nằm ở cách sử dụng đất và tổ chức không gian: nếu công trình, đường sá phát triển nhanh hơn hạ tầng xanh, thành phố sẽ mất dần khả năng tự điều hòa nhiệt. Khi cây xanh, mặt nước và thiết kế thích ứng khí hậu được đặt ngang hàng với hạ tầng giao thông, đô thị mới có cơ hội giảm sức ép nắng nóng và bảo vệ chất lượng sống trong dài hạn.
