Bên lề Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI: Sửa Luật Chứng khoán để khơi thông vốn, tăng trưởng hai con số
Ngày 28/10, Bên lề Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, trả lời phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, một số đại biểu cho rằng việc sửa đổi Luật Chứng khoán với mục tiêu phát triển thị trường vốn, nâng cao năng lực huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Bên cạnh cắt giảm thủ tục hành chính, đại biểu đề nghị bổ sung cơ chế chứng khoán hóa các khoản nợ, khuyến khích trái phiếu xanh, đầu tư hạ tầng công nghệ và tăng cường giám sát thị trường, bảo vệ nhà đầu tư.

Đại biểu Lê Nữ Thùy Dương (Đoàn Đồng Nai). Ảnh: Thùy Dương
Đại biểu Lê Nữ Thùy Dương (Đoàn Đồng Nai): Bổ sung cơ chế chứng khoán hóa các khoản nợ, ưu đãi phát triển trái phiếu xanh
Tôi cơ bản tán thành việc sửa đổi Luật Chứng khoán nhằm cắt điều kiện kinh doanh, bổ sung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và hỗ trợ mục tiêu nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam. Đây là kênh huy động vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế.
Dự thảo bổ sung Điều 6a về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực chứng khoán là cần thiết, đáp ứng nhu cầu phát triển sản phẩm, dịch vụ và mô hình kinh doanh mới trong bối cảnh công nghệ tài chính thay đổi nhanh chóng. Tuy nhiên, quy định này chưa bao gồm hoạt động chứng khoán hóa các khoản nợ theo định hướng tại Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Chứng khoán hóa các khoản nợ có thể góp phần nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu, tăng tính thanh khoản của tài sản tài chính, khơi thông nguồn vốn và phát triển thị trường thứ cấp. Vì vậy, tôi đề nghị nghiên cứu bổ sung các quy định nền tảng về cơ chế này vào Luật Chứng khoán, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai trong thực tế.
Đối với trái phiếu doanh nghiệp xanh, pháp luật đã bước đầu ghi nhận tại Nghị định số 200/2026/NĐ-CP và Danh mục phân loại xanh theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg. Tuy nhiên, doanh nghiệp phát hành trái phiếu xanh phải đáp ứng các yêu cầu về công bố thông tin, quản lý dòng vốn, báo cáo sử dụng vốn và tiêu chuẩn môi trường, ESG hoặc các chuẩn mực quốc tế tương đương, trong khi chưa có quy định cụ thể về cơ chế ưu đãi khuyến khích phát hành.
Tôi đề nghị bổ sung nguyên tắc Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi phát triển trái phiếu doanh nghiệp xanh và các công cụ huy động vốn phục vụ chuyển đổi xanh; đồng thời Chính phủ sẽ quy định chi tiết về chính sách này, qua đó mở rộng kênh huy động vốn trung và dài hạn cho khu vực tư nhân với chi phí hợp lý.
Về điều kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), tôi đồng tình với việc bãi bỏ điều kiện về tỷ lệ cổ phiếu bán được theo điểm d khoản 1 Điều 15 và chuyển sang cơ chế kiểm soát sau chào bán tại Điều 28. Cách tiếp cận này phù hợp với chủ trương cải cách thủ tục hành chính, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm.
Tuy nhiên, với doanh nghiệp có quy mô vốn hóa lớn, việc đồng thời yêu cầu tối thiểu 100 nhà đầu tư không phải cổ đông lớn nắm giữ ít nhất 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết có thể chưa phù hợp. Giá trị cổ phiếu tự do chuyển nhượng tương ứng với tỷ lệ này có thể đã đủ lớn để bảo đảm thanh khoản và thu hút các nhà đầu tư tổ chức trong nước, quốc tế.
Tôi đề nghị nghiên cứu cơ chế linh hoạt đối với nhóm doanh nghiệp này, cho phép áp dụng tiêu chí tương đương dựa trên giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư không phải cổ đông lớn nắm giữ, bên cạnh tiêu chí về số lượng nhà đầu tư và tỷ lệ sở hữu.
Quy định này vừa bảo đảm tính đại chúng, thanh khoản của cổ phiếu sau IPO, vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp quy mô lớn niêm yết, huy động vốn, góp phần nâng cao chất lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán và thu hút dòng vốn đầu tư dài hạn.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn phát biểu giải trình, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Đại biểu Trần Hoàng Ngân (Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh): Phát triển thị trường chứng khoán thành kênh cung ứng vốn chủ lực:
Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong kỷ nguyên mới, vốn là yếu tố rất quan trọng. Việt Nam đặt mục tiêu nâng tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên khoảng 40% GDP. Theo tinh thần Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về phát triển và thu hút vốn đầu tư nước ngoài mỗi năm chúng ta cần khoảng 30 - 40 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài thực hiện (vốn giải ngân).
Hiện nay, nguồn vốn trung và dài hạn của nền kinh tế phần lớn vẫn dựa vào tín dụng ngân hàng, trong khi nguồn vốn của ngân hàng chủ yếu là vốn ngắn hạn, tiềm ẩn rủi ro thanh khoản. Vì vậy, cần hoàn thiện Luật Chứng khoán để thị trường chứng khoán thực sự trở thành kênh cung ứng vốn trung và dài hạn chủ yếu cho nền kinh tế.
Tôi đánh giá việc sửa đổi Luật Chứng khoán lần này tập trung vào một số nội dung quan trọng như cắt giảm thủ tục hành chính, bổ sung cơ chế thử nghiệm có kiểm soát và hoàn thiện quy định về niêm yết, chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Đặc biệt, cần bổ sung chính sách hỗ trợ phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực cho ngành chứng khoán.
Thị trường chứng khoán cần công nghệ hiện đại để bảo đảm hoạt động liên tục, minh bạch, đồng thời nâng cao năng lực giám sát, kịp thời phát hiện và ngăn chặn hành vi thao túng, lũng đoạn thị trường. Đây là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin của nhà đầu tư, nhất là trong bối cảnh thị trường có hơn 14 triệu tài khoản.
Về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, trong bối cảnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phát triển nhanh, việc tạo điều kiện thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ mới là cần thiết. Tuy nhiên, quá trình này phải được thực hiện từng bước, có giới hạn và cơ chế giám sát chặt chẽ nhằm bảo vệ nhà đầu tư, bảo đảm minh bạch thị trường. Các quy định chi tiết cần đồng bộ với pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Bên cạnh đó, cần làm rõ cơ chế phối hợp giữa Sở Giao dịch chứng khoán Việt Nam và Trung tâm tài chính quốc tế, nhất là việc sử dụng hạ tầng, tư cách thành viên và quản lý dòng vốn đầu tư. Hai cơ quan đều thuộc Bộ Tài chính, do đó cần nghiên cứu phương án kết nối, tận dụng hạ tầng hiện có, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư và tránh phát sinh những yêu cầu đăng ký, thủ tục không cần thiết.
Thị trường chứng khoán cũng cần được củng cố niềm tin bằng thông tin minh bạch và cơ chế giám sát hiệu quả. Những tin đồn về tỷ giá hay diễn biến thị trường có thể tác động mạnh đến tâm lý nhà đầu tư, khiến giá cổ phiếu biến động trước khi thông tin chính thức được xác nhận. Vì vậy, bên cạnh hoàn thiện khung pháp lý, cần nâng cao chất lượng công bố thông tin và năng lực giám sát để thị trường phát triển ổn định, bền vững.
