Bệnh hô hấp ở trẻ nhỏ có thể chuyển nặng nhanh: Khi nào cần đưa trẻ đi cấp cứu?
Từ những biểu hiện ho, sốt tưởng chừng thông thường, trẻ có thể nhanh chóng xuất hiện tình trạng suy hô hấp. Cha mẹ cần đặc biệt lưu ý các dấu hiệu như thở nhanh, co kéo lồng ngực, tím tái, li bì hoặc bỏ bú để đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời.

(Ảnh minh họa do AI thiết kế)
Bệnh lý đường hô hấp vẫn là gánh nặng lớn tại các khoa Nhi và Cấp cứu. Theo Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thành Nam, Giám đốc Trung tâm Nhi khoa, Bệnh viện Bạch Mai, thống kê mô hình bệnh tật nhi khoa tại Việt Nam cho thấy nhóm bệnh hô hấp, bao gồm viêm phổi, viêm tiểu phế quản và hen phế quản, liên tục chiếm 40-50% tổng số bệnh nhi nhập viện. Tỷ lệ này thường tăng cao vào các thời điểm giao mùa.
Trên phạm vi toàn cầu, Tổ chức Y tế thế giới xếp viêm phổi vào nhóm nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi. Đáng chú ý, tử vong trong 28 ngày đầu đời chiếm tới 47% tổng số ca tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi.
Bên cạnh đó, sự lưu hành của các tác nhân virus như virus hợp bào hô hấp (RSV), adenovirus và cúm mùa càng làm gia tăng nguy cơ diễn biến nhanh ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh và trẻ sinh non.
Thở nhanh, rút lõm lồng ngực: Những dấu hiệu cảnh báo bệnh nặng
Theo Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thành Nam, nhiều cha mẹ thường chỉ chú ý đến nhiệt độ khi trẻ sốt hoặc tiếng ho nhiều đờm. Tuy nhiên, trong chuyên ngành nhi khoa, nhịp thở là chỉ số nhạy nhất phản ánh tình trạng tổn thương, tắc nghẽn đường hô hấp dưới, bao gồm phế quản, phổi và tiểu phế quản.
Khi vi sinh vật tấn công xuống đường hô hấp dưới gây viêm phổi, viêm tiểu phế quản, diện tích trao đổi khí của phổi bị thu hẹp hoặc các phế quản nhỏ bị bít tắc. Để bù đắp lượng oxy thiếu hụt, cơ thể trẻ phản ứng bằng cách tăng tần số thở. Đây là lý do thở nhanh được coi là dấu hiệu lâm sàng sớm cảnh báo viêm phổi.
Để đếm nhịp thở của trẻ tại nhà, cha mẹ cần vén áo, quan sát sự di chuyển của lồng ngực hoặc bụng và đếm trọn vẹn trong một phút khi trẻ nằm yên hoặc đang ngủ. Không nên đếm khi trẻ quấy khóc hoặc sốt cao vì kết quả có thể không chính xác. Khi phát hiện nhịp thở tăng cao bất thường so với lứa tuổi, cha mẹ cần đưa trẻ đi khám ngay, thay vì tiếp tục theo dõi tại nhà.
Nếu thở nhanh là lời cảnh báo đầu tiên thì thở rút lõm lồng ngực là dấu hiệu cho thấy trẻ đang phải gắng sức để hít thở.
Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thành Nam phân tích, khi đường thở bị tắc nghẽn hoặc phổi giảm độ giãn nở do viêm, phù nề nhu mô phổi, trẻ phải dùng rất nhiều sức để hít vào. Các cơ liên sườn, cơ hoành phải co kéo mạnh nhằm đưa không khí vào phổi nhiều hơn. Phụ huynh có thể quan sát vùng ranh giới giữa ngực và bụng, phần dưới lồng ngực, để nhận biết hiện tượng lõm sâu vào mỗi khi trẻ hít vào.
Ở trẻ sơ sinh và trẻ nhũ nhi, dấu hiệu này còn có thể đi kèm phập phồng cánh mũi, co kéo các cơ liên sườn hoặc tiếng thở rên nhẹ ở thì thở ra. Khi xuất hiện những dấu hiệu gắng sức này, hệ hô hấp của trẻ đã phải làm việc quá tải và có nguy cơ dẫn đến kiệt sức nếu không được can thiệp y tế kịp thời.
Tím tái, li bì, bỏ bú: Cần đưa trẻ đi cấp cứu ngay
Bên cạnh tổn thương hô hấp, tình trạng thiếu oxy kéo dài có thể nhanh chóng ảnh hưởng đến các cơ quan sinh tồn. Tiến sĩ, bác sĩ Nguyễn Thành Nam khuyến cáo phụ huynh và nhân viên y tế tuyến ban đầu cần chuyển trẻ đến ngay cơ sở y tế gần nhất nếu xuất hiện các dấu hiệu nguy cấp.
Đó là tình trạng tím tái, da trẻ tái nhợt, xuất hiện màu xanh tím rõ ở quanh môi, niêm mạc lưỡi hoặc các đầu ngón tay, ngón chân. Cha mẹ cũng cần đặc biệt lưu ý khi trẻ thay đổi tình trạng tinh thần, không còn quấy khóc, linh hoạt mà rơi vào trạng thái li bì, lơ mơ, khó đánh thức; hoặc ngược lại, kích thích, vật vã liên tục do thiếu oxy não, thậm chí xuất hiện co giật.
Những biểu hiện nguy hiểm khác bao gồm trẻ sơ sinh bỏ bú hoàn toàn, không thể nuốt; trẻ lớn nôn tất cả mọi thứ sau khi ăn hoặc không thể uống nước. Trẻ xuất hiện các khoảng ngừng thở ngắn, thở ngắt quãng hoặc có tiếng thở rít thanh quản rõ ngay cả khi nằm yên cũng cần được đưa đến cơ sở y tế ngay.
Để hạn chế nguy cơ bệnh hô hấp diễn biến nặng, bác sĩ Nam khuyến cáo các cha mẹ cần chủ động theo dõi trẻ mỗi khi có biểu hiện cảm cúm, ho, sốt, duy trì thói quen đếm nhịp thở và quan sát lồng ngực 2-3 lần mỗi ngày. Không tự ý mua kháng sinh, thuốc giảm ho, thuốc giãn phế quản hoặc thuốc chống viêm khi chưa có chỉ định. Việc tự ý sử dụng thuốc giảm ho có thể làm ứ đọng đờm nhầy, khiến vi khuẩn phát triển mạnh hơn và che lấp các dấu hiệu chuyển nặng.
Bên cạnh đó, cần vệ sinh mũi thông thoáng bằng nước muối sinh lý, bảo đảm dinh dưỡng, cho trẻ uống đủ nước hoặc tăng cường bú mẹ để làm loãng đờm. Môi trường sống cần thông thoáng, tuyệt đối không để trẻ hít phải khói thuốc lá, tác nhân làm suy giảm hàng rào bảo vệ đường hô hấp.
Tiêm phòng đầy đủ cũng là biện pháp cần thiết. Các gia đình cần chủ động cho trẻ tiêm vaccine phòng những vi khuẩn thường gặp gây viêm phổi như phế cầu, H. influenzae và các virus như cúm, virus hợp bào hô hấp, sởi. Các thành viên trong gia đình cũng cần tiêm phòng để góp phần phòng bệnh. Đồng thời, cần bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ, cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời.


