Biến nguồn lực người Việt toàn cầu thành sức mạnh phát triển quốc gia
Sức mạnh của Việt Nam không chỉ nằm trong biên giới quốc gia, mà còn hiện diện ở bất cứ nơi nào có người Việt Nam sinh sống. Để nguồn lực hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài thực sự trở thành sức mạnh phát triển, điều cần thiết là một cách tiếp cận mới về kết nối, trọng dụng và tạo cơ hội cống hiến.

(Ảnh được thiết kế có yếu tố AI)
Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 2/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới mở ra một cách tiếp cận mới khi xác định người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc, mà còn là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng của đất nước.
Hơn 6,5 triệu người Việt Nam đang sinh sống tại trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đằng sau con số ấy không chỉ là nguồn lực kiều hối, mà còn là một nguồn lực lớn về trí tuệ, công nghệ, vốn đầu tư, mạng lưới kinh doanh, quan hệ quốc tế và khả năng kết nối Việt Nam với thế giới.
Làm thế nào để nguồn lực ấy được kết nối thực chất với những bài toán phát triển của đất nước? Cần những cơ chế nào để một nhà khoa học, chuyên gia hay doanh nhân người Việt dù đang ở bất cứ đâu cũng có thể tham gia vào hành trình phát triển của Việt Nam?
Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng, đã đến lúc cần tiến thêm một bước trong tư duy: từ “thu hút kiều bào đóng góp” sang kiến tạo một cộng đồng phát triển Việt Nam toàn cầu.
Tích hợp nguồn lực người Việt toàn cầu vào năng lực phát triển quốc gia
Phóng viên: Nghị quyết 23 xác định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời và là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng của đất nước. Theo ông, nguồn lực hơn 6 triệu người Việt trên toàn cầu có ý nghĩa như thế nào đối với hành trình hiện thực hóa mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045?
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Tôi cho rằng, điểm rất mới và có ý nghĩa chiến lược của Nghị quyết 23 là chúng ta đang mở rộng cách hiểu về nguồn lực quốc gia. Sức mạnh của Việt Nam không chỉ nằm trong biên giới Việt Nam, mà còn hiện diện ở bất cứ nơi nào có người Việt Nam sinh sống, làm việc, sáng tạo và có khát vọng đóng góp cho đất nước.
Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã có hơn 6,5 triệu người tại trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đáng chú ý, tỷ lệ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng tăng.
Đây là một nguồn lực đặc biệt bởi họ đồng thời thuộc về hai không gian: không gian Việt Nam và không gian toàn cầu. Họ hiểu Việt Nam nhưng cũng hiểu thế giới; có tình cảm với quê hương nhưng đồng thời có tri thức, công nghệ, mạng lưới và kinh nghiệm được tích lũy tại những trung tâm phát triển hàng đầu.
Vì vậy, đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài không nên chỉ được nhìn qua kiều hối, dù riêng năm 2025 đã đạt khoảng 17,7 tỷ USD. Nguồn lực quý giá hơn còn là trí tuệ, công nghệ, vốn đầu tư, mạng lưới kinh doanh, quan hệ quốc tế và sức mạnh kết nối.
Muốn trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam phải huy động được những nguồn lực tốt nhất của dân tộc, bất kể những nguồn lực ấy đang ở đâu.
Theo tôi, vì thế, cần tiến thêm một bước trong tư duy: từ “thu hút kiều bào đóng góp” sang “kiến tạo một cộng đồng phát triển Việt Nam toàn cầu”. Khi đó, hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.
Khát vọng 2045, xét đến cùng, không chỉ là khát vọng của Việt Nam trong lãnh thổ quốc gia. Đó phải là khát vọng chung của người Việt Nam trên toàn thế giới.
Phóng viên: Trong kỷ nguyên hội nhập sâu rộng, sức mạnh quốc gia không chỉ nằm ở nguồn lực trong nước mà còn ở khả năng kết nối tri thức, công nghệ, vốn và mạng lưới toàn cầu. Theo ông, Việt Nam cần làm gì để cộng đồng người Việt ở nước ngoài trở thành một phần thực chất của sức mạnh quốc gia?
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải chuyển từ tư duy “thu hút nguồn lực kiều bào” sang “tích hợp nguồn lực người Việt toàn cầu vào năng lực phát triển quốc gia”. Hai cách tiếp cận này rất khác nhau.
Lâu nay, chúng ta thường nghĩ đến việc mời chuyên gia về nước, thu hút kiều hối hay kêu gọi doanh nhân đầu tư. Những việc đó vẫn cần, nhưng chưa đủ.
Trong thời đại số, một nhà khoa học người Việt ở Boston, một kỹ sư bán dẫn ở Đài Loan (Trung Quốc), một chuyên gia trí tuệ nhân tạo ở Paris hay một doanh nhân ở Singapore không nhất thiết phải trở về sinh sống lâu dài mới có thể đóng góp cho đất nước. Điều quan trọng là phải có cơ chế để họ tham gia giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của Việt Nam.
Nghị quyết 23 đã mở ra đúng hướng khi đặt vấn đề xây dựng những mạng lưới, hệ sinh thái kết nối bền vững các chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ người Việt Nam toàn cầu. Theo tôi, bước tiếp theo là phải biến các mạng lưới ấy thành hạ tầng kết nối trí tuệ quốc gia.

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng chia sẻ tại một tọa đàm. (Ảnh: TRẦN HẢI)
Việt Nam cần xác định những bài toán chiến lược, như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng mới, tài chính quốc tế, quản trị đô thị, rồi kết nối đúng người Việt giỏi nhất trên thế giới với từng bài toán. Nghị quyết 23 cũng đã xác định rõ các lĩnh vực công nghệ ưu tiên và yêu cầu tạo điều kiện cho đóng góp linh hoạt, kể cả từ xa.
Nhưng sâu xa hơn, muốn người Việt toàn cầu gắn bó với đất nước, chúng ta không chỉ cần chính sách đãi ngộ mà còn cần niềm tin, sự trọng thị và cơ hội được cống hiến thực chất.
Tôi nghĩ nguyên tắc nên rất giản dị: người Việt Nam dù ở đâu, nếu có tài năng và khát vọng đóng góp cho đất nước, đều phải có một cánh cửa để bước vào hành trình phát triển của Việt Nam. Khi làm được điều đó, biên giới địa lý sẽ không còn là biên giới của nguồn lực quốc gia.
Nghị quyết 23 đã mở ra đúng hướng khi đặt vấn đề xây dựng những mạng lưới, hệ sinh thái kết nối bền vững các chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ người Việt Nam toàn cầu. Theo tôi, bước tiếp theo là phải biến các mạng lưới ấy thành hạ tầng kết nối trí tuệ quốc gia.
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng
Phóng viên: Nghị quyết 23 và Nghị quyết 57 cùng đặt con người, tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí quan trọng trong mô hình phát triển mới. Theo ông, làm thế nào để kết nối nguồn lực trí thức người Việt toàn cầu với các mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước?
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, Nghị quyết 23 và Nghị quyết 57 gặp nhau ở một điểm rất quan trọng: muốn phát triển bằng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thì trước hết phải phát triển bằng con người và trí tuệ.
Nghị quyết 57 cũng đặt ra yêu cầu xây dựng, kết nối mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế, đồng thời có cơ chế đặc thù thu hút người Việt Nam ở nước ngoài có trình độ cao.
Nhưng để chủ trương này đi vào cuộc sống, theo tôi, cách tiếp cận phải thay đổi. Chúng ta không nên bắt đầu bằng câu hỏi: “Có bao nhiêu trí thức người Việt ở nước ngoài có thể huy động?”, mà phải bắt đầu bằng câu hỏi: Việt Nam đang cần giải quyết những bài toán chiến lược nào?
Chẳng hạn, nếu đất nước xác định bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng mới, vật liệu tiên tiến hay công nghệ lượng tử là những lĩnh vực cần tạo đột phá, thì với mỗi lĩnh vực phải xác định những nhiệm vụ cụ thể, sau đó tìm kiếm những người Việt Nam giỏi nhất trên thế giới có thể tham gia giải quyết.
Chính Nghị quyết 57 đã đặt trọng tâm vào công nghệ chiến lược và yêu cầu phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ Việt Nam gắn với tiếp thu, làm chủ thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến của thế giới.
Quan trọng hơn, không nên chỉ “mời chuyên gia về nước”. Cần xây dựng mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam toàn cầu, trong đó một nhà khoa học có thể ở Silicon Valley, Tokyo hay Berlin nhưng vẫn tham gia một chương trình nghiên cứu quốc gia, hướng dẫn một nhóm nghiên cứu trẻ, chuyển giao công nghệ hoặc kết nối doanh nghiệp Việt Nam với những hệ sinh thái công nghệ hàng đầu.
Như vậy, điều chúng ta cần không chỉ là chính sách thu hút nhân tài, mà là một hạ tầng thể chế để trí tuệ Việt Nam ở bất cứ đâu cũng có thể tham gia sáng tạo giá trị cho Việt Nam.
Nếu làm được điều đó, Việt Nam sẽ có một lợi thế rất lớn: không nhất thiết phải sở hữu toàn bộ trí tuệ, nhưng phải có năng lực kết nối trí tuệ tốt nhất của người Việt trên toàn thế giới để giải những bài toán phát triển của đất nước.
Từ cùng chung cội nguồn đến cùng kiến tạo tương lai
Phóng viên: Từ một cộng đồng chủ yếu được nhìn nhận ở vai trò gắn kết và hướng về quê hương, người Việt Nam ở nước ngoài đang được đặt vào vị trí đồng hành, cùng kiến tạo và đóng góp trực tiếp vào sự phát triển đất nước. Theo ông, sự thay đổi này có ý nghĩa như thế nào đối với sức mạnh đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn mới?
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, đây là một sự chuyển đổi rất có ý nghĩa trong tư duy về đại đoàn kết dân tộc. Nếu trước đây sự gắn kết với đồng bào ở nước ngoài thường được nhấn mạnh ở tình cảm hướng về quê hương, thì ngày nay cần tiến thêm một bước: từ cùng chung cội nguồn đến cùng chung một tương lai.
Nghị quyết 23 thể hiện rất rõ tinh thần đó khi xác định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận đặc biệt của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời nhấn mạnh việc phát huy những điểm tương đồng, đề cao hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai.
Theo tôi, đây là một cách tiếp cận rất quan trọng. Bởi đại đoàn kết bền vững không có nghĩa là mọi người phải giống nhau, suy nghĩ giống nhau hay có cùng trải nghiệm lịch sử.

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng. (Ảnh: NGUYỄN QUÂN)
Người Việt Nam trên toàn thế giới có thể khác nhau về hoàn cảnh sống, thế hệ, quan điểm và trải nghiệm. Nhưng chúng ta có thể gặp nhau ở một mẫu số chung lớn hơn: lợi ích quốc gia-dân tộc và khát vọng về một Việt Nam hòa bình, hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Khi đồng bào ở nước ngoài được nhìn nhận không chỉ là đối tượng vận động mà là chủ thể đồng hành và cùng kiến tạo, quan hệ giữa đất nước với kiều bào cũng thay đổi. Đó không chỉ là câu chuyện “quê hương cần đồng bào đóng góp gì”, mà còn là “đất nước có thể kiến tạo điều kiện gì để mọi người Việt Nam cùng tham gia xây dựng tương lai chung”.
Nghị quyết 23 cũng đặt ra yêu cầu tạo thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, đóng góp xây dựng chính sách và các chương trình phát triển.
Tôi cho rằng, đại đoàn kết trong giai đoạn mới phải là đại đoàn kết để phát triển. Khát vọng 2045 chính là mẫu số chung có khả năng quy tụ người Việt Nam ở mọi nơi.
Quá khứ có thể để lại những khác biệt; nhưng tương lai của Việt Nam có thể đưa chúng ta lại gần nhau. Và cùng kiến tạo tương lai chính là hình thức cao nhất của sự gắn kết.
Phóng viên: Để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam 2045, Việt Nam không chỉ cần nguồn lực trong nước mà còn cần mạng lưới kết nối toàn cầu. Theo ông, đối ngoại và hội nhập quốc tế cần đóng vai trò như thế nào trong việc kết nối nguồn lực người Việt toàn cầu với các cơ hội phát triển của đất nước?
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Theo tôi, trong giai đoạn mới, đối ngoại và hội nhập quốc tế cần được nhìn nhận không chỉ là cánh cửa đưa Việt Nam ra thế giới, mà còn là hạ tầng kết nối những nguồn lực tốt nhất của thế giới với sự phát triển của Việt Nam. Trong hạ tầng ấy, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có một vị trí đặc biệt.
Nghị quyết 59 xác định hội nhập quốc tế là động lực chiến lược, với yêu cầu tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài để gia tăng nội lực và phát triển đất nước. Nghị quyết 23 lại nhấn mạnh vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài như cầu nối hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với thế giới, kết nối sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Hai định hướng này cần được triển khai trong một kiến trúc thống nhất.
Theo tôi, mỗi đại sứ quán, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài không chỉ làm ngoại giao theo nghĩa truyền thống, mà ngày càng phải trở thành một “trạm kết nối phát triển”: nhận diện người Việt tài năng, kết nối doanh nhân và nhà đầu tư, tìm kiếm công nghệ, phát hiện cơ hội thị trường và kết nối những nguồn lực ấy với các bộ, ngành, địa phương, trường đại học và doanh nghiệp trong nước.
Ở chiều ngược lại, cộng đồng người Việt toàn cầu cũng có thể trở thành một phần rất đặc biệt của năng lực đối ngoại quốc gia. Một doanh nhân am hiểu thị trường sở tại, một giáo sư có uy tín trong giới khoa học, một chuyên gia làm việc tại tập đoàn công nghệ lớn đều có thể là những “cầu nối phát triển” tự nhiên của Việt Nam.
Như vậy, cần hình thành một vòng tuần hoàn: đối ngoại mở không gian-kiều bào tạo kết nối-trong nước hấp thụ nguồn lực và năng lực quốc gia được nâng lên.
Khát vọng 2045 đòi hỏi Việt Nam phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Và hơn 6 triệu người Việt trên toàn cầu chính là một trong những cây cầu tự nhiên nhất để kết nối hai nguồn sức mạnh ấy.
Khát vọng 2045 đòi hỏi Việt Nam phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Và hơn 6 triệu người Việt trên toàn cầu chính là một trong những cây cầu tự nhiên nhất để kết nối hai nguồn sức mạnh ấy.
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng
Phóng viên: Nếu nhìn từ năm 2045 trở lại, ông mong muốn cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được nhắc đến như thế nào trong câu chuyện vươn mình và thịnh vượng của Việt Nam? Điều gì cần được làm ngay từ hôm nay để khát vọng Việt Nam 2045 thực sự trở thành khát vọng chung của người Việt ở trong và ngoài nước?
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng: Nếu nhìn từ năm 2045 trở lại, tôi mong rằng lịch sử sẽ không viết rằng người Việt Nam ở nước ngoài chỉ là những người “hướng về” và “đóng góp cho” sự phát triển của đất nước. Tôi mong lịch sử sẽ ghi nhận họ là những người cùng tham gia kiến tạo nên kỳ tích phát triển của Việt Nam.
Khi ấy, thành công của một nhà khoa học người Việt ở Mỹ, một doanh nhân ở châu Âu, một kỹ sư ở Nhật Bản hay một người trẻ gốc Việt ở Australia, nếu góp phần làm cho Việt Nam mạnh hơn, đều là một phần của câu chuyện Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng. (Ảnh: NGUYỄN QUÂN)
Bởi sức mạnh của một dân tộc trong thế kỷ XXI không chỉ được đo bằng những gì dân tộc ấy có trong lãnh thổ của mình, mà còn bằng khả năng kết nối và phát huy trí tuệ, tài năng, uy tín của những người cùng chung nguồn cội trên toàn thế giới.
Muốn vậy, việc cần làm ngay hôm nay, theo tôi, trước hết là kiến tạo niềm tin. Phải để mỗi người Việt Nam ở nước ngoài cảm nhận rằng đất nước thực sự trân trọng họ, lắng nghe họ và dành cho họ cơ hội tham gia thực chất.
Nghị quyết 23 đã mở ra một tinh thần rất đáng quý: phát huy điểm tương đồng, đề cao hòa hợp dân tộc, gác lại quá khứ và hướng tới tương lai.
Tiếp đó là kiến tạo cơ chế tham gia. Từ nhà khoa học, doanh nhân đến trí thức trẻ, mỗi người có năng lực và mong muốn cống hiến đều cần tìm thấy một cánh cửa để kết nối với những bài toán phát triển của đất nước.
Nhưng sâu xa nhất vẫn là kiến tạo một giấc mơ chung. Mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 đã được Đại hội XIV xác định là tầm nhìn quốc gia. Khát vọng ấy chỉ thực sự trở thành sức mạnh lớn khi hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước và hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài đều có thể nói: “Đó cũng là tương lai mà tôi muốn góp phần tạo dựng”.
Tôi tin rằng, đến năm 2045, điều đáng tự hào nhất không chỉ là Việt Nam đã trở nên thịnh vượng hơn, mà là người Việt Nam trên toàn thế giới đã cùng nhau làm nên sự thịnh vượng ấy.

