Biwase: Nước sạch mang về hơn 680 tỷ đồng lợi nhuận sau 9 tháng, đẩy mạnh đầu tư các dự án môi trường

Trong 9 tháng đầu năm 2026, Biwase ghi nhận lợi nhuận sau thuế gần 957 tỷ đồng, tăng 27,8% so với cùng kỳ. Trong đó, mảng nước sạch đóng góp hơn 680 tỷ đồng lợi nhuận, chiếm phần lớn kết quả kinh doanh.

Lợi nhuận quý III tăng hơn 45%, đóng góp từ công ty liên kết cải thiện

Theo báo cáo tài chính quý III/2026, Công ty CP - Tổng công ty Nước - Môi trường Bình Dương (Biwase, HoSE: BWE) ghi nhận doanh thu thuần đạt 1.268,5 tỷ đồng, tăng 40,4% so với cùng kỳ năm 2025. Lợi nhuận gộp đạt 581,1 tỷ đồng, tăng 15,7%.

Trong kỳ, doanh thu tài chính của doanh nghiệp giảm xuống còn 51,1 tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu do cùng kỳ năm trước ghi nhận khoản thu nhập từ hoạt động thoái vốn, chuyển nhượng cổ phần.

Ở chiều ngược lại, phần lãi từ các công ty liên doanh, liên kết tăng mạnh, đạt 89,3 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm trước ghi nhận khoản lỗ 2,9 tỷ đồng. Đây là một trong những yếu tố đóng góp đáng kể vào kết quả lợi nhuận của BWE trong quý III.

 Tình hình kinh doanh của Biwase.

Tình hình kinh doanh của Biwase.

Kết thúc quý III/2026, lợi nhuận trước thuế của Biwase đạt 448,5 tỷ đồng, tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt 408 tỷ đồng, tăng 45,4%. Trong đó, lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 407,6 tỷ đồng, tăng 54,2%.

Theo doanh nghiệp, kết quả kinh doanh tích cực đến từ việc số lượng khách hàng đấu nối và sản lượng tiêu thụ nước sạch tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định. Bên cạnh đó, tỷ lệ thất thoát nước được kiểm soát tốt, chi phí sản xuất được tiết giảm, trong khi doanh thu từ hoạt động xử lý rác thải tăng so với cùng kỳ. Khoản lợi nhuận đóng góp từ các công ty liên doanh, liên kết cũng cải thiện đáng kể.

Nước sạch đóng góp hơn 70% lợi nhuận sau thuế của Biwase

Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, BWE đạt 3.525,7 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận gộp đạt 1.630 tỷ đồng, tăng 13%.

Đáng chú ý, khoản lãi từ các công ty liên doanh, liên kết đạt 201,2 tỷ đồng, tăng 176,8% so với mức 72,7 tỷ đồng cùng kỳ năm 2025.

Kết quả, doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận trước thuế 1.061,6 tỷ đồng, tăng 21,6%. Lợi nhuận sau thuế đạt 956,9 tỷ đồng, tăng 27,8% so với cùng kỳ. Trong đó, lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 954 tỷ đồng, tăng 33,5%.

 Cơ cấu doanh thu của Biwase

Cơ cấu doanh thu của Biwase

Lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS) trong 9 tháng đạt 3.730 đồng, cao hơn mức 2.697 đồng của cùng kỳ năm trước.

Xét theo cơ cấu doanh thu 9 tháng đầu năm 2026, mảng sản xuất và kinh doanh nước sạch tiếp tục đóng vai trò chủ lực trong hoạt động của BWE, với doanh thu thuần đạt 2.276,6 tỷ đồng, chiếm 64,6% tổng doanh thu. Mảng này mang về 1.368,5 tỷ đồng lợi nhuận gộp, tương ứng biên lợi nhuận gộp 60,1%. Lợi nhuận sau thuế đạt 680,7 tỷ đồng.

Đứng thứ hai về tỷ trọng doanh thu là hoạt động khác, đạt 646,4 tỷ đồng, chiếm 18,3%. Tuy nhiên, đây lại là mảng có đóng góp lợi nhuận sau thuế đáng kể, đạt 255,6 tỷ đồng. Lợi nhuận gộp đạt 166 tỷ đồng, với biên lợi nhuận gộp 25,7%.

Trong khi đó, mảng xử lý rác thải ghi nhận doanh thu thuần 558 tỷ đồng, chiếm 15,8% tổng doanh thu. Lợi nhuận gộp đạt 89,2 tỷ đồng, biên lợi nhuận gộp 16% và lợi nhuận sau thuế đạt 17,3 tỷ đồng.

Mảng xử lý nước thải có quy mô nhỏ nhất, với doanh thu 44,7 tỷ đồng, tương ứng 1,3% tổng doanh thu. Lợi nhuận gộp đạt 6,3 tỷ đồng, biên lợi nhuận gộp 14,2% và lợi nhuận sau thuế đạt 3,3 tỷ đồng.

Tổng tài sản Biwase vượt 17.180 tỷ đồng, dư nợ vay tài chính tăng lên 7.355 tỷ đồng

Tại ngày 30/9/2026, tổng tài sản của BWE đạt 17.181,3 tỷ đồng, tăng 13,4%, tương ứng tăng hơn 2.033 tỷ đồng so với thời điểm đầu năm.

Trong cơ cấu tài sản, tài sản ngắn hạn đạt 4.599 tỷ đồng, chiếm 26,8% tổng tài sản và tăng 21,2% so với đầu năm. Đáng chú ý, tiền và các khoản tương đương tiền đạt 1.704 tỷ đồng, tăng 60,3% so với mức 1.063,1 tỷ đồng hồi đầu năm.

Bên cạnh đó, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn, đạt 771,2 tỷ đồng, tăng 86,2%. Như vậy, tổng lượng tiền và tiền gửi ngắn hạn của doanh nghiệp đạt khoảng 2.475,2 tỷ đồng.

Ở chiều ngược lại, các khoản phải thu ngắn hạn giảm 18,1%, xuống còn 1.087,8 tỷ đồng. Hàng tồn kho ghi nhận 849,5 tỷ đồng, gần như đi ngang so với mức 852,7 tỷ đồng đầu năm.

Tài sản dài hạn tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của BWE, đạt 12.582,3 tỷ đồng, tương ứng 73,2% tổng tài sản và tăng 10,8% so với đầu năm.

Trong đó, tài sản cố định đạt 5.292,7 tỷ đồng, chủ yếu là tài sản cố định hữu hình với giá trị 5.161,3 tỷ đồng. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang đạt 2.163,9 tỷ đồng, tăng 15,3% so với đầu năm.

Trong đó, chi phí xây dựng cơ bản đạt 1.556,1 tỷ đồng, tăng so với mức 1.254,5 tỷ đồng đầu năm. Đáng chú ý, dự án tuyến ống nước sạch D1200 thị trấn Bến Lức đi dọc đường ĐT830 đến Ngã tư Chợ Trạm tại công ty con - Công ty CP Nước Biwase - Long An ghi nhận chi phí dở dang 510,3 tỷ đồng. Dự án nâng công suất lò đốt tăng thêm 500 tấn/ngày, kết hợp phát điện công suất 12 MW ghi nhận 493,4 tỷ đồng.

Một số dự án khác cũng có giá trị đầu tư đáng kể như Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt An Thới tại TP. Phú Quốc với 34,2 tỷ đồng; dự án khu xử lý bãi bùn tại khu phố Bãi Bổn, đặc khu Phú Quốc với 25,6 tỷ đồng; Nhà máy nước Chơn Thành - giai đoạn 3 với 81,9 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, BWE đang triển khai dự án Nhà máy nước Hồ Cửa Cạn tại khu phố Suối Cát, đặc khu Phú Quốc với chi phí dở dang 2,8 tỷ đồng; dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Bãi Bổn với 2,3 tỷ đồng và dự án kết nối đầu tư hệ thống nước sạch về vùng sâu, vùng xa của tỉnh Bình Dương với 6,8 tỷ đồng.

Ngoài ra, khoản mục các công trình khác đạt 397,6 tỷ đồng, tăng so với mức 356,2 tỷ đồng đầu năm. Chi phí mua sắm đạt 601,3 tỷ đồng, trong khi chi phí sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ tài sản cố định là 6,4 tỷ đồng.

Ngoài ra, đầu tư tài chính dài hạn đạt 3.795,9 tỷ đồng, tăng 11,4%. Trong đó, khoản đầu tư vào các công ty liên doanh, liên kết chiếm 2.952,2 tỷ đồng.

Về nguồn vốn, tại cuối quý III/2026, nợ phải trả của BWE đạt 9.190,2 tỷ đồng, chiếm 53,5% tổng nguồn vốn, tăng 3,7% so với đầu năm.

Trong đó dư nợ vay tài chính Biwase đạt 7.355,8 tỷ đồng, tăng 4% (tương ứng tăng 285,5 tỷ đồng) so với thời điểm đầu năm. Trong đó, dư nợ vay ngắn hạn đạt 2.593,6 tỷ đồng, chiếm 35,3% tổng dư nợ, tăng 29,4%. Ngược lại, dư nợ vay dài hạn còn 4.762,1 tỷ đồng, chiếm 64,7%, giảm 6% so với đầu năm.

Đáng chú ý, trong cơ cấu nợ vay ngắn hạn, khoản vay từ các ngân hàng thương mại đạt 1.375,3 tỷ đồng, tăng mạnh so với mức 865 tỷ đồng đầu năm. Các khoản vay này chủ yếu nhằm bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong đó, Mizuho Bank là chủ nợ lớn nhất với dư nợ 446,7 tỷ đồng, lãi suất từ 7,2-7,5%/năm. Tiếp đến là Shinhan Bank Việt Nam với 254,4 tỷ đồng, lãi suất 6,2-8,1%/năm; Standard Chartered Bank với 157,8 tỷ đồng, lãi suất 8,1%/năm; Cathay United Bank với 131,5 tỷ đồng, lãi suất 4,6%/năm; Kasikornbank với 101,3 tỷ đồng, lãi suất 7,1-7,6%/năm và Vietcombank - Chi nhánh Bình Dương với 99,9 tỷ đồng, lãi suất 7,5-7,7%/năm.

Phần còn lại trong dư nợ ngắn hạn là 1.218,4 tỷ đồng nợ vay dài hạn đến hạn trả trong vòng 12 tháng. Trong đó, công ty mẹ chịu trách nhiệm thanh toán 1.079,4 tỷ đồng, các công ty con là 139 tỷ đồng.

Đối với các khoản vay dài hạn, tổng dư nợ gốc trước khi phân loại phần đến hạn trả trong vòng 12 tháng đạt 5.980,5 tỷ đồng, bao gồm 5.280,5 tỷ đồng vay ngân hàng và các tổ chức tài chính, cùng 700 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp. Dư nợ dài hạn còn lại là 4.762,1 tỷ đồng.

Các khoản vay dài hạn của Biwase được huy động từ nhiều ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính quốc tế và các nguồn vốn hỗ trợ phát triển. Trong đó, Vietcombank tại các chi nhánh Bình Dương, Vĩnh Long và Bình Phước có tổng dư nợ 1.197,5 tỷ đồng, với lãi suất 6,5-8,8%/năm. Cathay United Bank cho vay 711,3 tỷ đồng, lãi suất 6,5-7,1%/năm; Maybank có dư nợ 459,8 tỷ đồng, lãi suất 7,1%/năm; Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) ghi nhận 405,7 tỷ đồng.

Bên cạnh các ngân hàng thương mại, BWE còn có các khoản vay từ những tổ chức tài chính và định chế phát triển quốc tế như JICA với 222,6 tỷ đồng, Ngân hàng Thế giới (World Bank) với 246,8 tỷ đồng, DEG (Đức) với 319,5 tỷ đồng và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) với 959,2 tỷ đồng. Ngoài ra, doanh nghiệp có dư nợ 296,2 tỷ đồng tại Quỹ Bảo vệ môi trường và các Quỹ Đầu tư phát triển địa phương, với lãi suất ưu đãi từ 2,6-7%/năm. Một số khoản vay, trong đó có khoản vay bằng EUR từ VDB, được áp dụng lãi suất 0%/năm. Các khoản vốn dài hạn này có thời hạn thanh toán kéo dài đến giai đoạn 2034-2040.

Đáng chú ý, trong cơ cấu nguồn vốn vay dài hạn còn có 700 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp mã BWL12401 do Công ty CP Nước Biwase - Long An, công ty con của BWE, phát hành. Lô trái phiếu có kỳ hạn 10 năm, ngày đáo hạn 27/11/2034 và lãi suất 5,5%/năm. Trái phiếu được bảo lãnh thanh toán toàn bộ bởi Quỹ Bảo lãnh và Đầu tư Tín dụng (CGIF) thuộc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).

Phía vốn chủ sở hữu, Biwase ghi nhận 7.991,1 tỷ đồng, chiếm 46,5% tổng nguồn vốn, tăng 27,1%, tương ứng tăng gần 1.701,8 tỷ đồng so với đầu năm. Đáng chú ý, vốn góp của chủ sở hữu tăng từ 2.199,3 tỷ đồng lên 2.513,5 tỷ đồng.

Ong Lý

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/biwase-nuoc-sach-mang-ve-hon-680-ty-dong-loi-nhuan-sau-9-thang-day-manh-dau-tu-cac-du-an-moi-truong-119644.html