Bộ đội chủ lực phối hợp với các lực lượng tác chiến trong thành phố

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Đảng ta chỉ đạo huy động nhiều lực lượng, trong đó chủ yếu là bộ đội chủ lực phối hợp với đặc công, biệt động và LLVT địa phương tác chiến tại các thành phố (Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng) được tổ chức chặt chẽ, khoa học.

Giữa lúc quân và dân ta vui mừng đón Tết Mậu Thân thì Mỹ-ngụy phải tập trung đối phó với bộ đội chủ lực của ta tại Khe Sanh. Từ đêm 30-1 đến ngày 25-2-1968, bộ đội chủ lực phối hợp với đặc công, biệt động và LLVT địa phương bất ngờ đồng loạt tiến công vào 4/6 thành phố, 37/44 thị xã, 64/242 thị trấn, quận lỵ trên toàn miền Nam, trọng điểm là các thành phố lớn: Sài Gòn, Huế và Đà Nẵng. Việc sử dụng bộ đội chủ lực phối hợp với đặc công, biệt động và LLVT tại chỗ tiến công vào các thành phố đòi hỏi phải có sự hiệp đồng chặt chẽ, thống nhất giữa các lực lượng. Thực tế trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, bộ đội chủ lực đã tổ chức hiệp đồng tác chiến chặt chẽ với các lực lượng ở từng thành phố.

 Sơ đồ diễn biến tiến công Sài Gòn - Gia Định đợt 1 (từ ngày 31-1 đến 28-2) trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Sơ đồ diễn biến tiến công Sài Gòn - Gia Định đợt 1 (từ ngày 31-1 đến 28-2) trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Theo kế hoạch, Sài Gòn là trọng điểm lớn nhất của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, bởi đây là trung tâm đầu não chính trị, quân sự, chỉ đạo toàn bộ bộ máy chiến tranh của Mỹ-ngụy ở miền Nam. Phối hợp với đặc công, biệt động tiến công ở nội thành, bộ đội chủ lực Miền (các sư đoàn bộ binh 5, 7, 9) ở vòng ngoài hiệp đồng với LLVT địa phương tiến công vào sở chỉ huy dã chiến của quân Mỹ, Bộ tư lệnh Quân đoàn 3, sở chỉ huy Sư đoàn 25 ngụy, sân bay Biên Hòa, kho Long Bình... ngăn chặn và kìm chế không cho địch đưa lực lượng từ bên ngoài vào ứng cứu nội thành. Đòn tiến công mạnh mẽ của bộ đội chủ lực đánh táo bạo, hiểm hóc vào các sở chỉ huy, căn cứ địch ở vùng ven đã phối hợp chặt chẽ với đặc công, biệt động tiến công vào 6/9 mục tiêu quan trọng của địch ở nội thành làm chúng rối loạn, gây tiếng vang lớn trong nước, làm chấn động cả nước Mỹ và lan rộng ra thế giới.

Tại TP Huế (trọng điểm thứ hai của Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968), sau khi lực lượng pháo binh bắn đồng loạt vào các vị trí địch, ở cánh Bắc, bộ đội chủ lực (Đại đội 1 và 2 thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 9, Sư đoàn 304) phối hợp với đặc công, biệt động tiến công đồn Mang Cá, sân bay Tây Lộc. Trong khi đó, một bộ phận bộ đội chủ lực khác (Đại đội 3 và 4) tiến công đánh chiếm khu Cột Cờ và toàn bộ khu Đại Nội. Phối hợp với đòn tiến công nội thành, bộ đội chủ lực (Tiểu đoàn 806 và 816 thuộc Trung đoàn 9) cùng LLVT địa phương tiến công các vị trí địch ở vòng ngoài (An Hòa, Đốc Sơ, La Chữ, Bồn Trì, Bồn Phổ), gây cho chúng một số thiệt hại.

Ở cánh Nam, bộ đội chủ lực của ta (gồm Tiểu đoàn 815 và 818 thuộc Trung đoàn 9; Tiểu đoàn 840 và 810 thuộc Đoàn 5) phối hợp với đặc công tiến công đánh chiếm đài phát thanh, Trường Quốc học Huế, trường Đồng Khánh, tòa tỉnh trưởng... Ở vòng ngoài, bộ phận còn lại của Trung đoàn 9 phối hợp với đặc công tiến công địch ở Tam Thai, Nam Giao, khu nhà thờ Phước Quả, trại Lê Lợi, trại Quang Trung, gây cho địch thiệt hại nặng. Đòn tiến công của bộ đội chủ lực phối hợp với đặc công và LLVT địa phương, kết hợp với nổi dậy của quần chúng ở TP Huế đã giành thắng lợi lớn. Mặt trận Liên minh dân tộc, dân chủ và hòa bình TP Huế ra đời, tiếp đó, Ủy ban nhân dân cách mạng Thừa Thiên-Huế được thành lập, quản lý mọi mặt thành phố một thời gian.

Ở TP Đà Nẵng (trọng điểm thứ ba của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968), sau khi pháo binh ta bắn phá các sân bay Đà Nẵng, Nước Mặn và biệt động, tự vệ đánh chiếm một số mục tiêu ở nội thành, thì ở phía Bắc, Trung đoàn 31 bộ binh (thiếu), công binh và LLVT địa phương tiến công đồn Nhất, đánh chiếm thị trấn Nam Ô. Ở nội thành, Tiểu đoàn 1 bộ binh tiến công vào sở chỉ huy Quân đoàn 1 ngụy bị chặn lại. Trong khi đó, Sư đoàn 2 bộ binh chủ lực Quân khu 5 do nhận được lệnh hoãn ngày nổ súng nên rút về tuyến sau. Vì thế, kế hoạch phối hợp tác chiến giữa Sư đoàn 2 bộ binh với các lực lượng khác trong và ngoại vi TP Đà Nẵng không thực hiện được.

Xét tương quan lực lượng giữa ta và địch về quân số, vũ khí, trang bị kỹ thuật, sức cơ động và trình độ tác chiến thì địch hơn ta gấp nhiều lần, ta khó đánh tiêu diệt lớn quân địch. Thế nhưng, việc tổ chức và sử dụng bộ đội chủ lực phối hợp với đặc công, biệt động và LLVT địa phương đánh thẳng vào trung tâm đầu não chính trị, quân sự của địch ở các thành phố: Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, kết hợp với nổi dậy của quần chúng là một quyết định sáng suốt, táo bạo, chưa có tiền lệ.

Lần đầu tiên tổ chức và sử dụng bộ đội chủ lực phối hợp với các lực lượng tác chiến trong thành phố vào Xuân Mậu Thân 1968, Quân đội ta đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm để tiếp tục kế thừa, phát triển, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa bộ đội chủ lực với các lực lượng tác chiến trong những trận đánh lớn có ý nghĩa chiến dịch, chiến lược, tiến tới mở cuộc tổng tiến công chiến lược, giải phóng các thành phố: Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn và giải phóng miền Nam trong mùa xuân 1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, thống nhất Tổ quốc./.

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/quoc-phong-an-ninh/nghe-thuat-quan-su-vn/bo-doi-chu-luc-phoi-hop-voi-cac-luc-luong-tac-chien-trong-thanh-pho-1025195