Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu những trăn trở hiện nay
Ngày 10/6, phát biểu tại chương trình 'Homecoming for Vietnamese Scientists', Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn đưa ra những trăn trở với vị trí là người đứng đầu ngành Giáo dục. Trong đó, điều ông suy nghĩ nhiều hơn là tương lai của giáo dục đại học trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng, đặc biệt dưới tác động của trí tuệ nhân tạo.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn. Ảnh: Nguyễn Mạnh
Bài toán về nhân lực
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho biết, dù còn không ít khó khăn như thiếu trường lớp, trang thiết bị dạy học và đội ngũ giáo viên, giáo dục phổ thông Việt Nam vẫn đạt nhiều thành tựu đáng tự hào khi đặt trong tương quan với khu vực và thế giới. Nếu tiếp tục khắc phục được những hạn chế về cơ sở vật chất và đội ngũ, giáo dục phổ thông Việt Nam sẽ còn tiến xa hơn nữa.
Giáo dục nghề nghiệp cũng nhiều khó khăn nhưng không phải là lĩnh vực quá khó nếu có sự đầu tư trọng điểm và gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo với doanh nghiệp, nhu cầu việc làm và thực tiễn nghề nghiệp.
Tuy nhiên, với giáo dục đại học, khoảng cách giữa Việt Nam với các nước phát triển vẫn còn khá xa. Để phát triển giáo dục đại học và từng bước bắt kịp các quốc gia tiên tiến không thể là câu chuyện của 5 hay 10 năm, mà là một quá trình công phu, lâu dài. Khoảng cách đó có thể thấy rõ từ điều kiện cơ sở vật chất, chất lượng đội ngũ đến năng lực đóng góp của các trường đại học cho sự phát triển đất nước, cộng đồng khoa học quốc tế và phát triển các công nghệ mới.
Khẳng định Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đã dành nhiều sự quan tâm cho giáo dục đại học thông qua việc đầu tư nguồn lực và hoàn thiện cơ chế, chính sách, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nêu, Nghị quyết số 71-NQ/TW đã đề ra hệ thống giải pháp khá toàn diện. Điều còn lại còn lại là tổ chức thực hiện hiệu quả.
Dẫn chứng về điều này, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cho biết, các cơ chế, chính sách hiện nay đã cởi mở và thông thoáng hơn rất nhiều, từ việc tăng cường quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học đến các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, tuyển dụng và nhiều lĩnh vực khác. Nguồn lực dành cho giáo dục đại học cũng đã được xác định rõ trong Nghị quyết số 71-NQ/TW và Luật Giáo dục đại học với mục tiêu chi khoảng 3% ngân sách Nhà nước. Vấn đề đặt ra là thực tế phân bổ và khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực này.
Trước những vấn đề này, người đứng đầu ngành Giáo dục bày tỏ suy nghĩ nhiều hơn là tương lai của giáo dục đại học trong bối cảnh thế giới biến động nhanh chóng, đặc biệt dưới tác động của trí tuệ nhân tạo. Đó là, hệ thống giáo dục đại học trên thế giới sẽ thay đổi như thế nào? Giáo dục đại học Việt Nam sẽ chuyển biến ra sao để không chỉ thích ứng mà còn làm chủ công nghệ và vươn lên cùng AI? Liệu vai trò của trường đại học, của giảng viên và nhà khoa học trong 5 năm tới có còn giống như hiện nay? Mô hình đào tạo, phương thức đào tạo và chương trình đào tạo có tiếp tục được duy trì như hiện tại hay không?
Trước hàng loạt câu hỏi nêu ra, Bộ trưởng khẳng định đây là câu hỏi chung và đến nay vẫn là bài toán chưa có lời giải rõ ràng bởi rất khó dự báo những thay đổi sẽ diễn ra trong tương lai.
Theo Bộ trưởng, bên cạnh việc phát triển đội ngũ trong nước bằng các cơ chế, chính sách đủ mạnh để các nhà khoa học, nhà giáo và trí thức phát huy hết năng lực, Việt Nam còn có một nguồn lực đặc biệt quan trọng là cộng đồng chuyên gia, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài… Và làm thế nào để kết nối và phát huy hiệu quả nguồn lực trí thức Việt Nam trên toàn cầu, qua đó đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp cho năng lực khoa học, công nghệ và chất lượng giáo dục đại học của Việt Nam.
Theo Bộ trưởng, phát triển khoa học công nghệ luôn đòi hỏi quá trình đầu tư bài bản, có lộ trình và không thể đốt cháy giai đoạn. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, bên cạnh mục tiêu phát triển dài hạn, cần tạo điều kiện để các nhà khoa học có thể nhanh chóng tham gia giải quyết những vấn đề cấp bách của đất nước, đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội thông qua các giải pháp và sản phẩm công nghệ cụ thể…

Các đại biểu tham dự chương trình. Ảnh: Nguyễn Mạnh
Làm rõ những vướng mắc
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn khẳng định, từ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo đến lãnh đạo các cơ sở giáo dục đại học đều rất quan tâm và đặt ra những mục tiêu cụ thể về thu hút các nhà khoa học, giảng viên xuất sắc ở nước ngoài trở về làm việc. Nhiều cơ sở giáo dục đại học lớn đều có những chương trình, chỉ tiêu thu hút nhân tài rất rõ ràng.
Tuy nhiên, người đứng đầu ngành Giáo dục cũng đặt vấn đề, liệu đây có phải là quyết tâm, ý chí của cán bộ, giảng viên ở các bộ môn hay không? Nếu lãnh đạo trường mong muốn thu hút nhân tài, nhưng ở cấp khoa, bộ môn lại chưa thực sự sẵn sàng đón nhận những người giỏi hơn mình, thì việc tuyển dụng và bổ nhiệm sẽ gặp nhiều khó khăn.
Phân tích cụ thể hơn, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nói: “Chúng ta thường bàn nhiều về cơ chế, chính sách, chế độ đãi ngộ, nhưng có lẽ ít nói đến một vấn đề khác, đó là bản thân các trường đại học và đội ngũ khoa học hiện có thực sự mong muốn đón nhận những người giỏi hơn về làm việc hay chưa. Liệu có tâm lý e ngại khi xuất hiện những người có năng lực vượt trội hơn, có thể tạo ra sự cạnh tranh về vị trí của mình?”.
Theo Bộ trưởng, để vượt qua rào cản này, cần nghiên cứu các mô hình tổ chức phù hợp, tạo ra những không gian phát triển mới thay vì chỉ dựa vào cơ cấu hiện có. Các trường đại học cần xây dựng những nhóm nghiên cứu mới, phòng thí nghiệm mới, tạo điều kiện để các nhà khoa học xuất sắc khi trở về có thể đảm nhiệm ngay những vị trí học thuật, chuyên môn phù hợp, phát huy năng lực một cách độc lập nhưng vẫn gắn kết, hợp tác hiệu quả với các đơn vị và đồng nghiệp trong trường.
Vì vậy, các nhà khoa học, chuyên gia cần làm rõ: Điều gì khiến các nhà khoa học mong muốn trở về; làm thế nào để các cơ sở giáo dục đại học thực sự sẵn sàng đón nhận và trọng dụng nhân tài; và làm thế nào để đội ngũ này có thể tham gia trực tiếp vào việc giải quyết những bài toán lớn của đất nước.











