Bộ trưởng GD-ĐT Hoàng Minh Sơn: 'Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là nguồn lực đầu tư'

Để thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 57-NQ/TW và 71-NQ/TW, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học, đặc biệt là đầu tư cho con người và môi trường nghiên cứu. Theo Bộ trưởng, đây là điều kiện then chốt để thu hút nhân tài và thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Để thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 57-NQ/TW và 71-NQ/TW, Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học, đặc biệt là đầu tư cho con người và môi trường nghiên cứu. Theo Bộ trưởng, đây là điều kiện then chốt để thu hút nhân tài và thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Nghị quyết số 57-NQ/TW được xem là bước đột phá chiến lược nhằm thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong khi đó, Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo thể hiện quyết tâm tạo chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới quản trị giáo dục, thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn ngành giáo dục.

Trong bối cảnh đó, giáo dục và đào tạo không chỉ đứng trước yêu cầu đổi mới, mà còn đứng trước áp lực phải chuyển động nhanh hơn, thực chất hơn để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.

Tuy nhiên, từ chủ trương đến thực tiễn vẫn còn không ít vấn đề đặt ra như khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động; chênh lệch về điều kiện tiếp cận chuyển đổi số giữa các vùng miền; tư duy quản trị chậm đổi mới; hay câu chuyện làm sao để hình thành năng lực sáng tạo, thích ứng và năng lực công nghệ cho người học.

Xung quanh những vấn đề này, Báo Đại biểu Nhân dân đã có cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn.

Đầu tư phải đi trước một bước

- Thưa Bộ trưởng, Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực phát triển quốc gia. Trong bức tranh đó, giáo dục được kỳ vọng phải “đi trước một bước”. Theo Bộ trưởng, ngành giáo dục sẽ phải thay đổi căn bản điều gì để đáp ứng yêu cầu này?

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn: Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt trọng tâm vào phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. “Cái gốc”, yếu tố quyết định năng lực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

Chính vì vậy, ngay từ bậc phổ thông cho tới đại học cũng như giáo dục nghề nghiệp, cần có sự chuẩn bị để có nhiều học sinh, sinh viên giỏi theo học những ngành nghề này. Bên cạnh đó, cần tập trung nâng cao chất lượng đào tạo thông qua phát triển đội ngũ giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường hợp tác với doanh nghiệp, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và triển khai đồng bộ nhiều giải pháp khác để nâng cao chất lượng đào tạo.

Chúng tôi cũng cho rằng, để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực lĩnh vực khoa học, công nghệ, cần tập trung và chú trọng nhiều hơn tới đào tạo sau đại học.

Để thực hiện tốt những nhiệm vụ trên, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó nêu ra nhiều chủ trương và giải pháp rất cụ thể. Trên cơ sở đó, Bộ GD-ĐT cũng đã ban hành kế hoạch thực hiện nhằm triển khai hiệu quả các nội dung này.

- Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng như Nghị quyết số 71-NQ/TWnhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ và chuyển đổi số. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu thị trường lao động vẫn còn khá lớn. Bộ GD-ĐT sẽ làm gì để tháo gỡ “điểm nghẽn” này, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn:Chúng ta phải lưu ý đến mối quan hệ giữa cung và cầu. Có cầu thì mới có cung, nhưng đôi khi có cung thì mới tạo ra cầu. Vì vậy, để giải quyết vấn đề này, Nhà nước phải đầu tư đi trước một bước. Điều đó có nghĩa là cần cơ chế hỗ trợ mạnh để các trường đại học đầu tư nâng cao chất lượng đào tạo và tuyển sinh tập trung vào những ngành then chốt như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), điện hạt nhân, đường sắt tốc độ cao,... Bên cạnh đó, cũng cần có chính sách hỗ trợ người học nhằm thu hút nhiều người học, đặc biệt là người giỏi theo học các ngành này. Đây là giải pháp cần phải triển khai.

Vừa qua, Bộ GD-ĐT đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP để cung cấp học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Chúng tôi cho rằng đây là một chính sách mang tính đột phá, không chỉ góp phần thu hút học sinh, sinh viên giỏi theo học, mà còn tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở đào tạo trong việc nâng cao chất lượng để thu hút người giỏi.

Chúng tôi tin tưởng rằng, khi Nghị định được triển khai, không chỉ số lượng mà chất lượng đào tạo ở các ngành này cũng sẽ được nâng lên đáng kể, qua đó từng bước đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Đồng thời, dẫn dắt việc thu hút đầu tư của các tập đoàn công nghệ vào những khâu, những chuỗi tạo giá trị gia tăng lớn như nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo.

Phát huy vai trò đại học vùng

- Một trong những thách thức lớn hiện nay là sự chênh lệch giữa các vùng miền, giữa các cơ sở giáo dục về hạ tầng công nghệ, đội ngũ và khả năng tiếp cận chuyển đổi số. Theo Bộ trưởng, nếu không giải quyết được vấn đề này thì liệu quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TWNghị quyết số 71-NQ/TWcó nguy cơ tạo ra khoảng cách mới trong giáo dục?

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn: Có thể nói, giáo dục bao giờ cũng gắn với thị trường lao động. Bản chất của sự chênh lệch vùng miền không chỉ là điều kiện khó khăn về tiếp cận, mà còn gắn với câu chuyện của thị trường lao động.

Vì sao sinh viên muốn theo học ở những thành phố lớn, những trung tâm đào tạo lớn? Bởi ở đó có thị trường việc làm tốt. Cho nên, trước hết chúng ta phải giải quyết bài toán về thị trường. Muốn phát triển giáo dục và đào tạo thì phải gắn kết trực tiếp với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nếu kinh tế - xã hội địa phương chưa có những ngành nghề đó thì chắc chắn cũng sẽ khó có những trường đại học đủ sức thu hút sinh viên theo học ngành tương ứng.

Bên cạnh đó, với xu thế chuyển đổi số hiện nay, không phải trường nào cũng phải đầu tư hạ tầng công nghệ phục vụ chuyển đổi số. Nhà nước cũng như Bộ GD-ĐT cần xây dựng các nền tảng dùng chung để các trường cùng khai thác, sử dụng. Trên cơ sở đó, cần tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, giảng viên để họ có thể làm chủ được các hệ thống này, cũng như được hỗ trợ tốt thông qua việc sử dụng các nền tảng chung.

Cùng với hạ tầng công nghệ cho chuyển đổi số, hạ tầng nghiên cứu cũng rất quan trọng. Mỗi trường đại học cần được xác định rõ những ngành nghề trọng điểm phù hợp với thế mạnh của nhà trường cũng như nhu cầu của từng địa bàn, vùng miền, địa phương để từ đó Nhà nước có chính sách đầu tư tập trung.

Việc phát huy vai trò, sứ mệnh của các đại học vùng sẽ mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao cho người học ở các địa bàn khó khăn. Ảnh: Bộ GD-ĐT

Việc phát huy vai trò, sứ mệnh của các đại học vùng sẽ mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao cho người học ở các địa bàn khó khăn. Ảnh: Bộ GD-ĐT

Bộ GD-ĐT đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, cùng một số đề án phát triển khác. Trong các đề án này cũng xác định rõ những cơ sở giáo dục đại học cần được đầu tư tập trung ở những lĩnh vực cụ thể nào, bao gồm cả các trường ở khu vực khó khăn như vùng Tây Nguyên hay các đại học vùng. Điều đó sẽ tạo cơ hội để các trường được đầu tư thông qua các dự án đầu tư công, chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển giáo dục và đào tạo, qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách vùng miền.

Chúng tôi cũng đặc biệt đề cao vai trò của các đại học vùng, như Đại học Thái Nguyên. Bộ GD-ĐT đang hỗ trợ để Đại học Thái Nguyên mở các phân hiệu tại những địa bàn còn khó khăn, như tại Lào Cai, Hà Giang, Điện Biên và tới đây sẽ tiếp tục ở một số địa phương khác.

Chúng tôi cho rằng việc phát huy vai trò, sứ mệnh của các đại học vùng sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao cho người học ở các địa bàn khó khăn. Không nhất thiết ở mỗi địa bàn đó đều phải thành lập một trường đại học tại chỗ, mà có thể thông qua các cơ sở giáo dục đại học lớn đã và đang hoạt động tốt, hiệu quả.

Phải đầu tư cho môi trường học tập và cơ sở vật chất

- Nhiều ý kiến cho rằng đổi mới giáo dục thời gian qua vẫn nặng về kiến thức, trong khi năng lực sáng tạo, nghiên cứu, tư duy công nghệ và khả năng thích ứng của người học chưa theo kịp yêu cầu mới. Bộ trưởng nhìn nhận vấn đề này ra sao và đâu sẽ là trọng tâm đổi mới trong thời gian tới?

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn: Đây là một vấn đề khó và cần được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh.

Chúng ta mong muốn sinh viên có được năng lực thích ứng, năng lực thực tiễn, năng lực đổi mới, tư duy sáng tạo... thì chúng ta phải đổi mới chương trình đào tạo, đặc biệt là phải đầu tư cho môi trường học tập và cơ sở vật chất. Nếu không có điều kiện thực hành, thí nghiệm tốt, nếu không có môi trường để sinh viên tham gia vào nghiên cứu, đổi mới sáng tạo thì không thể đòi hỏi các em chỉ thông qua việc học trên lớp có thể hình thành được những năng lực này.

Về đổi mới chương trình đào tạo, Bộ GD-ĐT đã có hướng dẫn thông qua việc xây dựng các chuẩn chương trình đào tạo để các cơ sở giáo dục đại học dựa trên đó cải tiến chương trình của mình. Các cơ sở giáo dục đại học lớn cũng đã rất chủ động trong đổi mới chương trình đào tạo để tiếp cận những chuẩn mực mới nhất. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là làm sao có được được môi trường học tập tốt, từ diện tích phòng học, hệ thống phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, trung tâm nghiên cứu,... Khi có những điều kiện đó, các trường mới có thể tạo điều kiện để sinh viên tham gia vào hoạt động nghiên cứu, sáng tạo ngay từ những năm học đầu tiên.

Một yếu tố rất quan trọng khác là hợp tác với doanh nghiệp. Nếu các doanh nghiệp công nghiệp của chúng ta vẫn chủ yếu dừng ở những khâu sản xuất, chế tạo, lắp ráp đơn giản thì sinh viên khi xuống thực tập cũng rất khó tiếp cận được với công nghệ mới. Bên cạnh đó, không phải doanh nghiệp nào cũng sẵn sàng tiếp nhận sinh viên xuống thực tập hay tham gia vào hoạt động nghiên cứu.

Vì vậy, đây là bài toán tổng thể, từ đổi mới chương trình đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất, cải thiện điều kiện học tập cho tới tăng cường hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp. Khi những yếu tố này được hoàn thiện đồng bộ, chúng ta mới có được hệ thống đào tạo gắn chặt giữa đào tạo với nhu cầu thực tiễn, cũng như phát triển những năng lực cần thiết cho người học trong bối cảnh mới.

Tạo “sức mạnh kép” cho giáo dục đại học

- Để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW, theo nhiều chuyên gia, điều quan trọng không chỉ là đầu tư công nghệ mà còn phải thay đổi tư duy quản trị, cơ chế sử dụng nhân tài và tạo môi trường chấp nhận đổi mới, sáng tạo trong trường học. Theo Bộ trưởng, đâu là khâu khó nhất hiện nay?

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn: Bên cạnh việc đầu tư cho công nghệ thì đầu tư vào con người là yếu tố quyết định. Tôi cho rằng đây cũng là vấn đề khó nhất. Bởi đầu tư cơ sở vật chất, với một nguồn lực nhất định, chúng ta có thể thực hiện trong thời gian tương đối nhanh. Nhưng đầu tư vào con người thì cần có thời gian và đòi hỏi những cơ chế, chính sách thực sự phù hợp.

Nếu chúng ta có được những nhà quản trị giỏi trong hệ thống giáo dục đại học thì sẽ tạo ra sự thay đổi rất lớn. Nếu có đội ngũ giảng viên xuất sắc thì chất lượng đào tạo cũng như sức sáng tạo của các trường đại học sẽ được nâng lên mạnh mẽ. Vì vậy, chúng tôi cho rằng khâu then chốt và cũng là khâu khó nhất hiện nay chính là phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ giảng viên giỏi, các nhà khoa học xuất sắc trong các cơ sở giáo dục đại học.

Bộ trưởng nhấn mạnh, muốn có đội ngũ giảng viên giỏi, nhà khoa học xuất sắc, cần cơ chế thu nhập đủ sức cạnh tranh cùng môi trường làm việc, điều kiện nghiên cứu, giảng dạy và học tập thuận lợi. Ảnh: Xuân Quý

Bộ trưởng nhấn mạnh, muốn có đội ngũ giảng viên giỏi, nhà khoa học xuất sắc, cần cơ chế thu nhập đủ sức cạnh tranh cùng môi trường làm việc, điều kiện nghiên cứu, giảng dạy và học tập thuận lợi. Ảnh: Xuân Quý

Làm thế nào để thay đổi tư duy quản trị? Làm thế nào để thu hút nhân tài? Và làm thế nào để xây dựng được môi trường học tập, nghiên cứu sáng tạo? Tất cả những vấn đề đó đều đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn. Đầu tư ở đây không chỉ là đầu tư cho công nghệ hay phòng thí nghiệm, mà còn là cơ chế đãi ngộ để thu hút người giỏi, người tài. Muốn thu hút được người giỏi thì phải có môi trường làm việc sáng tạo, môi trường nghiên cứu tốt cùng với hệ thống trang thiết bị hiện đại. Nếu không có đầu tư tương xứng thì sẽ rất khó thu hút được người giỏi về làm việc.

Chúng ta muốn đổi mới tư duy quản trị thì chúng ta cũng cần có được những người có tư duy quản trị tốt, chứ không chỉ đơn thuần là đào tạo, bồi dưỡng. Có thể thấy trong các tập đoàn, doanh nghiệp lớn hiện nay có rất nhiều nhà quản lý, nhà quản trị giỏi. Nhưng tại sao trong các trường đại học thì chưa nhiều?

Tôi cho rằng cần có chính sách để thực sự mức lương, thu nhập của đội ngũ lãnh đạo, quản trị đại học đạt mức cạnh tranh, dù có thể chưa bằng khu vực doanh nghiệp. Có như vậy mới có thể thu hút được những người giỏi tham gia công tác lãnh đạo, quản trị đại học. Tương tự, muốn có đội ngũ giảng viên giỏi, nhà khoa học xuất sắc thì cũng cần có cơ chế thu nhập đủ sức cạnh tranh, cùng với môi trường làm việc, điều kiện nghiên cứu, giảng dạy và học tập thuận lợi.

Đối với việc xây dựng môi trường cởi mở, môi trường học thuật tự do và phát huy tự chủ, hiện nay hệ thống văn bản pháp luật đã khá đầy đủ. Chúng tôi có thể nói rằng, cơ chế về tự chủ đại học trong nhiều năm qua đã tạo ra sức bật và thúc đẩy sự chuyển đổi mạnh mẽ của giáo dục đại học.

Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay vẫn là nguồn lực đầu tư cho việc tăng cường cơ sở vật chất, mở rộng diện tích, tạo môi trường học tập sáng tạo cũng như cơ chế, chính sách đãi ngộ để thu hút giảng viên giỏi, nhà quản lý giỏi.

Và việc đổi mới tư duy cũng phải bắt đầu từ chính tư duy đầu tư cho giáo dục. Chúng ta không nên coi giáo dục, giáo dục đại học chỉ là một lĩnh vực an sinh xã hội, mà phải coi đây là một lĩnh vực đầu tư. Khi đã đầu tư thì phải tính tới hiệu quả. Muốn có kết quả, có lợi ích thì phải có đầu tư tương xứng, đồng thời cũng cần chấp nhận cơ chế cạnh tranh theo thị trường. Những giảng viên giỏi, những nhà quản lý giỏi cũng phải được trả lương theo cơ chế cạnh tranh trên thị trường lao động.

Trường đại học có 3 nhiệm vụ quan trọng

- Bên cạnh vai trò phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, theo Bộ trưởng, hệ thống giáo dục đại học có vai trò như thế nào trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số?

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Hoàng Minh Sơn:Các trường đại học có 3 nhiệm vụ chính trị rất quan trọng: thứ nhất là đào tạo; thứ hai là nghiên cứu, phát triển và thứ ba là chuyển giao tri thức để phục vụ cộng đồng, phát triển kinh tế - xã hội. Hệ thống giáo dục đại học cũng như giáo dục nghề nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nguồn nhân lực khoa học - công nghệ.

Tuy nhiên, các trường đại học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực. Đây còn là những trung tâm tập hợp đội ngũ trí thức, các nhà khoa học, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên. Có thể nói, đây là nơi tập trung đông đảo nhất các nhà khoa học, những người làm nghiên cứu. Hiện các cơ sở giáo dục đại học đóng góp hơn 80% số công bố quốc tế có uy tín trên cả nước, đồng thời cũng đóng góp một phần quan trọng vào các sáng chế.

Trên thế giới, các trường đại học cũng chính là nơi những doanh nghiệp spin-off - những doanh nghiệp sáng tạo nhất về khoa học công nghệ được hình thành, ươm tạo và phát triển. Vì vậy, hệ thống giáo dục đại học của chúng ta cũng phải hướng tới sứ mạng và vai trò như vậy. Không chỉ là nơi đào tạo nguồn nhân lực, mà phải trở thành trung tâm tri thức để phát triển và chuyển giao tri thức, đóng góp trực tiếp vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Với vai trò đó, thời gian qua, hệ thống giáo dục đại học của chúng ta đã có nhiều nỗ lực. Từ khi có Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW, các trường đã tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu, tăng đầu tư cho đào tạo sau đại học, đồng thời chủ động xây dựng cơ chế, chính sách nhằm thu hút người học tham gia đào tạo sau đại học và tăng cường năng lực nghiên cứu.

Trong Nghị quyết số 57-NQ/TW cũng như Nghị quyết số 71-NQ/TW đều khẳng định đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phải gắn kết với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thời gian qua, Bộ GD-ĐT, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng nhiều bộ, ngành đã tham mưu để trình Chính phủ, Quốc hội ban hành các luật, nghị định nhằm thể chế hóa những quan điểm này.

Chúng tôi cho rằng, việc gắn kết giữa đào tạo nhân lực chất lượng cao với nghiên cứu khoa học sẽ tạo ra “sức mạnh kép”. Nghiên cứu khoa học giúp nâng cao chất lượng đào tạo, nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên cũng như năng lực nghiên cứu, sáng tạo của sinh viên. Ngược lại, khi gắn kết đào tạo với nghiên cứu khoa học, chúng ta cũng có thêm nguồn lực, thêm đội ngũ nghiên cứu sinh và sinh viên tham gia vào hoạt động nghiên cứu. Đây chính là lợi ích kép mà mô hình này mang lại. Vì vậy, đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục đại học sẽ mang lại hiệu quả hết sức thiết thực.

Các chương trình, đề án mà Bộ GD-ĐT trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ban hành thời gian qua cũng đều hướng tới mục tiêu: bên cạnh nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt trong các ngành khoa học, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược thì phải gắn chặt, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

- Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng đã chia sẻ!

Hồng Hạnh - Nguyễn Liên

Trình bày: Lan Anh

Hồng Hạnh - Nguyễn Liên

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/bo-truong-gd-dt-hoang-minh-son-diem-nghen-lon-nhat-hien-nay-la-nguon-luc-dau-tu-10418096.html