Bối cảnh khó khăn, làm sao để tăng trưởng hai con số năm 2026?
Tăng trưởng hai con số là bài toán khó trong bối cảnh điều hành chính sách không còn nhiều dư địa, kinh tế thế giới diễn biến khó lường, đòi hỏi những giải pháp đủ mạnh, đủ đột phá.
Lạc quan thận trọng
Bình luận về bức tranh kinh tế Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Trưởng bộ môn thị trường tài chính, Trường đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, thể hiện một sự “lạc quan thận trọng”.
Theo ông Huân, yếu tố thận trọng là bởi những khó khăn mang tính cấu trúc nền kinh tế đang đối diện, từ dư địa chính sách không còn dồi dào, áp lực ổn định vĩ mô lớn hơn, sự bất định của kinh tế thế giới cho đến những điểm nghẽn cũ như năng suất, thể chế, thị trường vốn chưa thể tháo gỡ trong một sớm một chiều.
Dù vậy, yếu tố lạc quan đến từ sự thay đổi mạnh mẽ về chất trong tư duy phát triển của Nhà nước, thể hiện qua cải cách bộ máy, thể chế cũng như việc chấp nhận thí điểm những mô hình mới như tài sản số, trung tâm tài chính.
“Nhà nước đã sẵn sàng bước ra khỏi “vùng an toàn” của tư duy điều hành cũ”, ông Huân nói với TheLEADER.
Về phía tư nhân, cuộc chơi đang rất khác khi doanh nghiệp không chỉ hỏi “được ưu đãi gì”, mà ngày càng hỏi nhiều hơn về luật chơi, về khả năng kết nối với thị trường toàn cầu, về công nghệ, quản trị và chuẩn mực quốc tế. Đó là dấu hiệu cho thấy một nền kinh tế đang thực sự trưởng thành.

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Trưởng bộ môn thị trường tài chính, Trường đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, thể hiện niềm "lạc quan thận trọng" về triển vọng nền kinh tế. Ảnh: NVCC.
Với sự lạc quan thận trọng, ông Huân cho rằng, việc Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao không phải là một “giấc mơ viển vông”. Dù vậy, còn nhiều điều cần phải làm để hiện thực hóa mục tiêu này, đặc biệt trong năm mới 2026 khi Việt Nam lần đầu đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số.
TheLEADER có buổi trò chuyện với ông Huân về giải pháp thúc đẩy tăng trưởng cho năm 2026 và giai đoạn tiếp theo.
Năm 2025 đã chứng kiến rất nhiều sự thay đổi, từ việc sáp nhập tỉnh, thành phố, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp cho đến một loạt chính sách liên quan đến hoạt động kinh doanh, nghĩa vụ thuế… được ban hành. Đây cũng được xem là năm bản lề để thực hiện mục tiêu tăng trưởng mạnh trong nhiều năm. Ông đánh giá thế nào về tình hình kinh tế năm 2025, đâu là thành tựu đáng ghi nhận và đâu là những điểm “chưa được”, cần khắc phục trong những năm tới?
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Nhìn lại năm 2025 có thể nói đây là một năm đặc biệt của kinh tế Việt Nam, không chỉ bởi những con số tăng trưởng mà còn bởi tính chất “bản lề” về thể chế và mô hình phát triển.
Việc triển khai sáp nhập đơn vị hành chính, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cùng với hàng loạt chính sách mới về thuế, đầu tư, đất đai, tài chính – ngân hàng cho thấy nền kinh tế đang bước vào một chu kỳ cải cách sâu hơn, hướng tới tăng trưởng nhanh nhưng phải bền vững hơn trong trung và dài hạn.
Về những điểm sáng, thành tựu đáng ghi nhận nhất của năm 2025 là việc giữ được ổn định vĩ mô trong bối cảnh quốc tế rất nhiều bất định. Lạm phát được kiểm soát tương đối tốt, tỷ giá không biến động mạnh so với nhiều đồng tiền trong khu vực, thị trường tiền tệ nhìn chung vẫn vận hành ổn định.
Đây là điều kiện nền tảng cực kỳ quan trọng, bởi nếu không có ổn định vĩ mô thì mọi mục tiêu tăng trưởng cao đều khó khả thi. Bên cạnh đó, động lực từ đầu tư công tiếp tục được phát huy, đóng vai trò “neo” cho tăng trưởng trong bối cảnh khu vực doanh nghiệp tư nhân và thị trường bất động sản vẫn đang trong quá trình phục hồi.
Việc đẩy mạnh cải cách thể chế, tinh gọn bộ máy hành chính, phân cấp – phân quyền rõ hơn cho địa phương cũng là một bước tiến lớn, tạo dư địa cho các địa phương chủ động hơn trong thu hút đầu tư và tổ chức phát triển.
Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn, năm 2025 cũng bộc lộ khá rõ những điểm “chưa được” của nền kinh tế. Thứ nhất là chất lượng tăng trưởng vẫn chưa thực sự cải thiện tương xứng với kỳ vọng. Tăng trưởng còn phụ thuộc nhiều vào đầu tư công và khu vực FDI, trong khi khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước phục hồi chậm, sức chống chịu còn yếu. Khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, đặc biệt là vốn tín dụng, chưa cao do cầu đầu tư thực sự chưa mạnh và niềm tin thị trường chưa hoàn toàn trở lại.
Thứ hai, quá trình cải cách thể chế dù đã khởi động mạnh nhưng vẫn còn độ trễ trong thực thi. Việc ban hành chính sách nhanh hơn nhưng khâu triển khai ở nhiều nơi vẫn lúng túng, thiếu đồng bộ, khiến chi phí tuân thủ của doanh nghiệp chưa giảm như mong đợi. Đối với doanh nghiệp, điều họ cần không chỉ là chính sách “đúng” mà còn là chính sách “ổn định và dễ dự đoán”, để có thể yên tâm lập kế hoạch đầu tư dài hạn.
Thứ ba, các điểm nghẽn mang tính cấu trúc như năng suất lao động thấp, năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nội địa còn hạn chế, thị trường vốn phát triển chưa tương xứng với quy mô nền kinh tế vẫn chưa được tháo gỡ căn bản.
Thị trường tài chính vẫn lệch về tín dụng ngân hàng, trong khi các kênh dẫn vốn trung và dài hạn như thị trường trái phiếu, quỹ đầu tư, hay các sản phẩm tài chính mới chưa thực sự phục hồi và phát huy vai trò.
Tóm lại, năm 2025 là một năm “đặt nền” với nhiều thành tựu quan trọng về ổn định vĩ mô và cải cách thể chế nhưng cũng cho thấy rõ những hạn chế nội tại của mô hình tăng trưởng hiện nay.
2025 là một năm “đặt nền” với nhiều thành tựu quan trọng về ổn định vĩ mô và cải cách thể chế nhưng cũng cho thấy rõ những hạn chế nội tại của mô hình tăng trưởng hiện nay
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Trưởng bộ môn thị trường tài chính, Trường đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Bài toán cho các năm tới không chỉ là làm sao tăng trưởng nhanh hơn, mà quan trọng hơn là nâng cao chất lượng tăng trưởng, củng cố niềm tin của khu vực tư nhân, và tạo dựng một môi trường chính sách đủ ổn định, minh bạch để kinh tế Việt Nam có thể bước vào giai đoạn tăng trưởng cao và bền vững hơn trong nhiều năm tiếp theo.
Năm 2026 là năm đầu tiên chúng ta hướng đến mục tiêu tăng trưởng hai con số. Theo ông, mục tiêu này liệu có quá thách thức và tham vọng, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động khó lường?
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Nếu nhìn thuần túy ở góc độ chu kỳ kinh tế và bối cảnh quốc tế, có thể nói mục tiêu tăng trưởng hai con số cho năm 2026 là một mục tiêu rất thách thức.
Kinh tế thế giới vẫn đang trong trạng thái biến động mạnh, tăng trưởng toàn cầu dự báo ở mức thấp, chính sách tiền tệ tại các nền kinh tế lớn còn nhiều bất định, xung đột địa chính trị và rủi ro phân mảnh chuỗi cung ứng chưa hề chấm dứt. Trong bối cảnh đó, việc một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số rõ ràng không phải là điều “dễ dàng”.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn như vậy thì chưa đủ. Mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 nên được hiểu không chỉ là một con số kế hoạch, mà là một “tuyên bố chính sách” mang tính định hướng. Nó cho thấy quyết tâm chuyển từ tư duy tăng trưởng thận trọng sang tư duy tăng trưởng chủ động, chấp nhận cải cách mạnh hơn và phân bổ nguồn lực quyết liệt hơn.
Ở khía cạnh này, mục tiêu đó không phải là quá tham vọng, mà là cần thiết để tạo cú hích về niềm tin và kỳ vọng cho cả khu vực công lẫn khu vực tư nhân.
Điều quan trọng là phải nhìn rõ điều kiện để mục tiêu này có thể tiệm cận thực tế. Thứ nhất, Việt Nam đang có dư địa nhất định về chính sách tài khóa. Nếu đầu tư công được triển khai hiệu quả hơn, gắn với các dự án hạ tầng chiến lược và có khả năng lan tỏa cao, thì tăng trưởng có thể được kéo lên đáng kể.
Thứ hai, cải cách thể chế nếu được thực thi thực chất, nhất là trong các lĩnh vực đất đai, đầu tư, tài chính và thị trường vốn, sẽ giải phóng được nguồn lực đang bị “đóng băng” trong nền kinh tế. Thứ ba, việc đẩy mạnh các động lực tăng trưởng mới như kinh tế số, kinh tế xanh, tài chính xanh và các mô hình kinh doanh dựa trên công nghệ có thể tạo ra mức tăng trưởng cao hơn so với mô hình truyền thống.àm Dù vậy, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng tăng trưởng hai con số trong năm 2026 không thể đạt được chỉ bằng các biện pháp ngắn hạn như nới lỏng tín dụng hay tăng chi tiêu công đơn thuần. àm Nếu chạy theo con số bằng mọi giá, rủi ro bất ổn vĩ mô, lạm phát và nợ xấu có thể quay trở lại rất nhanh. Do đó, thách thức lớn nhất không nằm ở việc đặt mục tiêu cao, mà ở chỗ lựa chọn đúng cách thức thực hiện: tăng trưởng phải đi cùng với cải thiện năng suất, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và củng cố nền tảng tài chính – tiền tệ.
Tóm lại, mục tiêu tăng trưởng hai con số cho năm 2026 là tham vọng, nhưng không phải là viển vông. Nó là một mục tiêu khó, đòi hỏi kỷ luật chính sách rất cao và cải cách thực chất.
Nếu coi đây là một “điểm tựa kỳ vọng” để thúc đẩy cải cách, tạo niềm tin và huy động nguồn lực xã hội, thì ngay cả trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động, mục tiêu này vẫn có ý nghĩa và giá trị định hướng rất lớn đối với nền kinh tế Việt Nam.
Điều hành chính sách cho tăng trưởng hai con số
Với việc dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, ông đánh giá thế nào về nhiệm vụ duy trì ổn định vĩ mô?
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số chắc chắn sẽ tạo ra áp lực rất lớn lên nhiệm vụ duy trì ổn định vĩ mô. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng, giữa tăng trưởng cao và ổn định vĩ mô không phải là hai mục tiêu đối nghịch, mà là hai điều kiện phải song hành.
Vấn đề không nằm ở chỗ có nên ưu tiên cái nào, mà nằm ở cách thức theo đuổi tăng trưởng như thế nào để không đánh đổi sự ổn định đã được tạo dựng trong nhiều năm qua.
Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, ổn định vĩ mô không chỉ đơn thuần là kiểm soát lạm phát hay giữ tỷ giá, mà còn là duy trì niềm tin vào chính sách. Khi kỳ vọng của doanh nghiệp và người dân ổn định, chi phí vốn sẽ thấp hơn, dòng vốn sẽ bền vững hơn và tăng trưởng sẽ có chất lượng hơn.
Nếu vì áp lực tăng trưởng mà nới lỏng chính sách tiền tệ một cách nóng vội, đẩy tín dụng tăng mạnh trong khi sức hấp thụ của nền kinh tế chưa tương xứng, thì rủi ro lạm phát, bong bóng tài sản và nợ xấu hoàn toàn có thể quay trở lại. Khi đó, cái giá phải trả cho bất ổn vĩ mô sẽ lớn hơn rất nhiều so với lợi ích ngắn hạn của tăng trưởng cao.
Nhiệm vụ cốt lõi trong giai đoạn tới là chuyển trọng tâm từ “kích cầu bằng chính sách” sang “kích hoạt bằng cải cách”
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Trưởng bộ môn thị trường tài chính, Trường đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Do đó, nhiệm vụ cốt lõi trong giai đoạn tới là chuyển trọng tâm từ “kích cầu bằng chính sách” sang “kích hoạt bằng cải cách”. Chính sách tiền tệ cần tiếp tục được điều hành thận trọng, linh hoạt, ưu tiên ổn định, trong khi chính sách tài khóa đóng vai trò chủ đạo trong hỗ trợ tăng trưởng, nhưng phải gắn với kỷ luật ngân sách và hiệu quả đầu tư công.
Quan trọng hơn, cải cách thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, đầu tư, thị trường vốn và môi trường kinh doanh sẽ giúp giải phóng nguồn lực đang bị ách tắc mà không tạo thêm áp lực lạm phát.
Ở một góc nhìn khác, ổn định vĩ mô trong giai đoạn hướng tới tăng trưởng cao còn đòi hỏi sự phối hợp chính sách rất chặt chẽ. Nếu chính sách tiền tệ, tài khóa và các chính sách vĩ mô khác không đồng bộ, nền kinh tế sẽ rơi vào trạng thái “vừa đạp ga vừa đạp phanh”, làm giảm hiệu quả điều hành và gia tăng rủi ro. Ngược lại, nếu có sự phối hợp nhịp nhàng, đặc biệt là giữa mục tiêu tăng trưởng và kiểm soát rủi ro hệ thống tài chính, thì tăng trưởng cao có thể đạt được mà không gây mất cân đối lớn.
Tóm lại, trong bối cảnh dồn lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, nhiệm vụ duy trì ổn định vĩ mô không hề giảm đi, mà ngược lại còn trở nên quan trọng hơn. Ổn định vĩ mô phải được xem là “điều kiện tiên quyết” chứ không phải “lựa chọn”. Chỉ khi giữ vững được nền tảng ổn định, tăng trưởng cao mới có thể bền vững, và mục tiêu hai con số mới không trở thành một áp lực ngắn hạn gây tổn hại cho nền kinh tế trong trung và dài hạn.
Theo khuyến nghị của Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, Chính phủ không nên tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ trong năm 2026. Như vậy, liệu việc nới lỏng tài khóa có là động lực tăng trưởng chính? Và liệu có “quá sức” nếu chỉ dùng chính sách tài khóa để kích thích tăng trưởng với mục tiêu hai con số?
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Khuyến nghị không tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ trong năm 2026 là một quan điểm thận trọng và hợp lý, nếu đặt trong bối cảnh mục tiêu lớn hơn là bảo vệ ổn định vĩ mô và an toàn hệ thống tài chính. Sau một giai đoạn dài hỗ trợ tăng trưởng bằng mặt bằng lãi suất thấp và tăng trưởng tín dụng khá cao, dư địa của chính sách tiền tệ thực tế không còn nhiều.
Việc cố gắng “ép” tăng trưởng bằng tiền tệ trong lúc sức hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa thực sự mạnh có thể dẫn tới những rủi ro lớn hơn là lợi ích, đặc biệt là nguy cơ lạm phát, méo mó phân bổ vốn và tái tích tụ nợ xấu.
Trong bối cảnh đó, chính sách tài khóa rõ ràng sẽ phải đóng vai trò chủ đạo hơn trong hỗ trợ tăng trưởng năm 2026. Tuy nhiên, cần hiểu đúng rằng “nới lỏng tài khóa” không đồng nghĩa với chi tiêu bằng mọi giá hay mở rộng ngân sách thiếu kiểm soát. Vấn đề then chốt không nằm ở quy mô chi tiêu, mà ở chất lượng và cấu trúc của chính sách tài khóa.
Nếu tài khóa được sử dụng để thúc đẩy đầu tư công hiệu quả, tập trung vào các dự án hạ tầng chiến lược, có khả năng lan tỏa và kích hoạt đầu tư tư nhân, đây sẽ là động lực tăng trưởng tương đối an toàn và bền vững hơn so với nới lỏng tiền tệ.
Câu hỏi liệu chỉ dựa vào tài khóa có “quá sức” hay không phụ thuộc rất lớn vào cách thức triển khai. Nếu tài khóa chỉ đơn thuần là tăng chi, tăng bội chi và đẩy nợ công lên nhanh, trong khi hiệu quả đầu tư thấp, thì rõ ràng đó là con đường không bền vững và tiềm ẩn rủi ro cho ổn định vĩ mô. Còn nếu tài khóa được thiết kế theo hướng “kích hoạt”, tức là dùng vốn nhà nước để dẫn dắt, khơi thông các nguồn lực xã hội, đặc biệt là đầu tư tư nhân và FDI, thì sức nặng đặt lên ngân sách sẽ giảm đi rất nhiều.
Quan trọng hơn, cần nhấn mạnh rằng tài khóa không thể và không nên là động lực duy nhất cho tăng trưởng hai con số. Nếu thiếu đi cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh và khơi thông các thị trường nhân tố như đất đai, vốn, lao động và công nghệ, thì dù có nới lỏng tài khóa mạnh đến đâu, tăng trưởng cũng khó đạt được mục tiêu, hoặc nếu đạt được thì sẽ rất mong manh. Nói cách khác, tài khóa chỉ là “chất xúc tác”, chứ không thể thay thế cho cải cách cấu trúc.
Tóm lại, trong bối cảnh không tiếp tục nới lỏng tiền tệ, việc chính sách tài khóa đóng vai trò động lực chính cho tăng trưởng năm 2026 là hợp lý. Tuy nhiên, sẽ là “quá sức” và tiềm ẩn rủi ro nếu chỉ trông chờ vào tài khóa để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số. Con đường khả thi hơn là kết hợp tài khóa chủ động, kỷ luật và có trọng tâm với cải cách thể chế thực chất, qua đó tạo ra động lực tăng trưởng dựa trên năng suất và hiệu quả, thay vì dựa thuần túy vào việc mở rộng chi tiêu ngân sách.
“Giải mã” động lực tăng trưởng
Nhắc đến kinh tế Việt Nam, chúng ta vẫn quen với khái niệm “Cỗ xe tam mã” cho tăng trưởng là xuất khẩu, đầu tư công và FDI, chi tiêu chính phủ và tiêu dùng. Ông đánh giá thế nào về “cỗ xe tam mã” hiện nay và giải pháp nào để củng cố những động lực tăng trưởng này trong kỷ nguyên mới?
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Khái niệm “cỗ xe tam mã” từng phản ánh khá đúng cấu trúc tăng trưởng của kinh tế Việt Nam trong suốt nhiều năm, khi xuất khẩu – đầu tư (đặc biệt là đầu tư công và FDI) – tiêu dùng trong nước cùng kéo nền kinh tế đi lên. Tuy nhiên, nếu nhìn vào bối cảnh hiện nay, có thể nói “cỗ xe tam mã” vẫn còn đó, nhưng sức kéo, nhịp chạy và sự phối hợp giữa các “mã lực” đã thay đổi khá nhiều, thậm chí bộc lộ những giới hạn rõ ràng của mô hình tăng trưởng truyền thống.
Trước hết, xuất khẩu vẫn là động lực rất quan trọng, nhưng không còn là “con ngựa bất kham” như giai đoạn trước. Độ mở lớn khiến kinh tế Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào chu kỳ toàn cầu. Khi nhu cầu thế giới suy yếu, xu hướng bảo hộ gia tăng và chuỗi cung ứng tái cấu trúc theo hướng “friend-shoring”, xuất khẩu khó có thể tăng trưởng cao và ổn định như trước.
Bên cạnh đó, cơ cấu xuất khẩu vẫn dựa nhiều vào khu vực FDI, giá trị gia tăng trong nước còn hạn chế, khiến đóng góp thực chất vào tăng trưởng dài hạn chưa tương xứng với kim ngạch. Điều này cho thấy xuất khẩu vẫn là động lực cần thiết, nhưng không thể tiếp tục là trụ cột duy nhất hay mang tính “dẫn dắt” tuyệt đối như trong quá khứ.

Đầu tư công đóng vai trò “neo” cho nền kinh tế, giúp duy trì cầu trong bối cảnh khu vực tư nhân phục hồi chậm. Ảnh: Hoàng Anh
Đối với đầu tư, đặc biệt là đầu tư công và FDI, đây đang là trụ đỡ quan trọng nhất của tăng trưởng trong giai đoạn hiện nay. Đầu tư công đóng vai trò “neo” cho nền kinh tế, giúp duy trì cầu trong bối cảnh khu vực tư nhân phục hồi chậm. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn vẫn nằm ở hiệu quả và khả năng lan tỏa.
Nếu đầu tư công chỉ dừng lại ở vai trò bù đắp thiếu hụt cầu ngắn hạn mà không tạo ra năng lực sản xuất mới, không kích hoạt được đầu tư tư nhân, thì tác động sẽ nhanh chóng suy giảm. Với FDI, thách thức không còn nằm ở thu hút vốn bằng mọi giá, mà là làm sao chuyển từ “lượng” sang “chất”, tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước, nâng cao năng lực công nghiệp hỗ trợ và chuyển giao công nghệ thực chất hơn.
Tiêu dùng trong nước, bao gồm cả chi tiêu của Chính phủ và khu vực hộ gia đình, vẫn là động lực tương đối ổn định, nhưng đang chịu sức ép từ thu nhập tăng chậm và tâm lý thận trọng của người dân sau nhiều cú sốc kinh tế. Nếu tiêu dùng chỉ được kích thích bằng các biện pháp ngắn hạn như giảm thuế hay hỗ trợ hành chính, hiệu ứng sẽ không bền. Động lực tiêu dùng chỉ thực sự mạnh khi gắn với tăng trưởng thu nhập thực, thị trường lao động ổn định và niềm tin vào triển vọng kinh tế dài hạn.
Trong “kỷ nguyên mới”, vấn đề không chỉ là củng cố từng “mã lực” riêng lẻ, mà là tái cấu trúc lại toàn bộ cỗ xe tăng trưởng. Xuất khẩu cần được nâng cấp theo hướng xanh hơn, số hóa hơn và gắn với chuỗi giá trị cao hơn, thay vì chỉ chạy theo sản lượng. Đầu tư công cần đóng vai trò dẫn dắt chiến lược, tập trung vào hạ tầng số, hạ tầng xanh và các nền tảng thể chế, để kích hoạt khu vực tư nhân.
FDI cần được chọn lọc kỹ hơn, ưu tiên các dự án có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa về công nghệ và năng suất. Trong khi đó, tiêu dùng nội địa phải được nuôi dưỡng từ gốc rễ thông qua cải thiện thu nhập, an sinh xã hội và chất lượng việc làm.
Quan trọng hơn cả, “cỗ xe tam mã” trong kỷ nguyên mới không thể thiếu “bộ khung” là cải cách thể chế và “động cơ” là năng suất. Nếu không nâng được năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn và chất lượng nguồn nhân lực, thì dù ba động lực truyền thống có được kích hoạt mạnh đến đâu, tăng trưởng cũng khó bền vững.
Vì vậy, thay vì chỉ gia cố cỗ xe cũ, Việt Nam cần vừa củng cố các động lực truyền thống, vừa từng bước bổ sung những động lực mới dựa trên đổi mới sáng tạo, kinh tế số và kinh tế xanh, để cỗ xe tăng trưởng có thể chạy nhanh hơn nhưng cũng vững vàng hơn trong chặng đường dài phía trước.
Năm 2026 đánh dấu mốc cho nhiều đột phá, từ việc thí điểm sàn giao dịch tài sản số, cho đến vận hành trung tâm tài chính quốc tế. Liệu những điều này sẽ tạo ra động lực tăng trưởng vượt bậc cho Việt Nam?
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Năm 2026 thực sự có thể được xem là một mốc rất đặc biệt trong tiến trình phát triển của kinh tế Việt Nam, bởi lần đầu tiên chúng ta chủ động thử nghiệm những cấu phần cốt lõi của một nền kinh tế tài chính hiện đại, từ sàn giao dịch tài sản số cho đến việc đưa Trung tâm Tài chính quốc tế vào vận hành thực tế.
Tuy nhiên, để trả lời câu hỏi liệu những đột phá này có tạo ra động lực tăng trưởng vượt bậc hay không, cần có một cách nhìn tỉnh táo, tránh cả hai thái cực: kỳ vọng quá mức hoặc đánh giá quá thận trọng.
Trước hết, cần khẳng định rằng các sáng kiến như sàn giao dịch tài sản số hay Trung tâm Tài chính quốc tế không phải là “đòn bẩy tăng trưởng tức thì” theo nghĩa truyền thống, giống như mở rộng đầu tư công hay kích cầu tiêu dùng.
Tác động của chúng không đến từ việc làm GDP tăng mạnh ngay trong một hoặc hai năm, mà đến từ việc tái cấu trúc nền kinh tế, mở ra những không gian tăng trưởng hoàn toàn mới trong trung và dài hạn. Ở góc độ này, giá trị lớn nhất của các đột phá năm 2026 nằm ở việc thay đổi chất của tăng trưởng, chứ không chỉ thay đổi tốc độ.
Với sàn giao dịch tài sản số, điều quan trọng không chỉ là câu chuyện công nghệ hay quy mô giao dịch, mà là khả năng tạo ra một cơ chế huy động và phân bổ vốn mới. Nếu được thiết kế và quản lý tốt, sàn tài sản số có thể giúp biến những tài sản vốn “đóng băng” hoặc khó giao dịch thành nguồn lực tài chính có thể luân chuyển, từ đó hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Quan trọng hơn, việc thí điểm trong khuôn khổ kiểm soát sẽ giúp Việt Nam học rất nhanh về quản trị rủi ro, hoàn thiện khung pháp lý và tránh lặp lại những cú sốc mà nhiều quốc gia đã từng trải qua với tài sản số. Đây chính là giá trị gia tăng dài hạn, dù tác động ngắn hạn lên tăng trưởng có thể chưa lớn.
Đối với Trung tâm Tài chính quốc tế, tác động đến tăng trưởng càng mang tính nền tảng hơn. Một trung tâm tài chính không tạo ra tăng trưởng bằng cách “bơm tiền” vào nền kinh tế, mà bằng cách nâng cấp toàn bộ hệ sinh thái tài chính, từ huy động vốn, phân bổ vốn, quản trị rủi ro cho đến thu hút dòng vốn quốc tế chất lượng cao.
Nếu vận hành hiệu quả, Trung tâm Tài chính quốc tế sẽ giúp Việt Nam tiếp cận các dòng vốn trung và dài hạn với chi phí thấp hơn, đa dạng hơn, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các dịch vụ tài chính giá trị gia tăng cao. Đây là điều kiện then chốt để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao trong nhiều năm, chứ không chỉ riêng năm 2026.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng những đột phá này chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng khi đi kèm với thể chế phù hợp và năng lực thực thi đủ mạnh. Nếu sàn giao dịch tài sản số bị trói buộc bởi tư duy quản lý cũ, hoặc Trung tâm Tài chính quốc tế vận hành như một “khu hành chính mở rộng” thay vì một không gian thể chế đặc thù, thì tác động sẽ rất hạn chế. Ngược lại, nếu dám thử nghiệm, dám cho phép sai trong khuôn khổ kiểm soát, và coi đây là phòng thí nghiệm thể chế cho cả nền kinh tế, thì hiệu ứng lan tỏa sẽ vượt xa phạm vi của riêng hai sáng kiến này.
Tóm lại, các đột phá năm 2026 không nên được kỳ vọng là “liều thuốc tăng trưởng nhanh”, mà nên được nhìn nhận như những “động cơ nền” cho một chu kỳ phát triển mới.
Chúng có thể chưa làm GDP bật lên ngay lập tức, nhưng sẽ quyết định việc Việt Nam có thể duy trì tăng trưởng cao, bền vững và dựa trên chất lượng trong 5-10 năm tới hay không. Nếu làm đúng, đây sẽ là những cú hích mang tính chiến lược, đặt nền móng cho một mô hình tăng trưởng mới, thay vì chỉ là những thử nghiệm mang tính biểu tượng.
Ông có khuyến nghị nào cho công tác điều hành chính sách kinh tế để vừa giữ nhịp tăng trưởng, vừa đảm bảo ổn định vĩ mô, tránh lạm phát tăng cao và nguy cơ bong bóng tài sản?
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân: Nếu gói gọn trong một lời khuyến nghị, tôi cho rằng điều quan trọng nhất là đừng “đạp ga” bằng tiền rẻ, mà hãy đạp ga bằng cải cách và hiệu quả, còn chính sách tiền tệ phải giữ vai trò “tay lái” để bảo vệ ổn định vĩ mô.
Quan trọng nhất là đừng “đạp ga” bằng tiền rẻ, mà hãy đạp ga bằng cải cách và hiệu quả, còn chính sách tiền tệ phải giữ vai trò “tay lái” để bảo vệ ổn định vĩ mô.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Trưởng bộ môn thị trường tài chính, Trường đại học Kinh tế TP.HCM
Muốn vừa giữ nhịp tăng trưởng vừa tránh lạm phát và bong bóng tài sản, điều hành cần đi theo logic: tài khóa chủ động nhưng có kỷ luật, tiền tệ thận trọng nhưng linh hoạt, và giám sát rủi ro phải đi trước một nhịp.
Nghĩa là, tăng trưởng nên được kích hoạt chủ yếu bằng các biện pháp làm tăng năng lực cung và năng suất như hạ tầng, logistics, số hóa thủ tục, tháo gỡ điểm nghẽn đất đai–đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh, thay vì cố gắng kéo cầu ngắn hạn bằng nới tín dụng đại trà.
Ở phía chính sách, cần ưu tiên “chất lượng dòng tiền” hơn “số lượng dòng tiền”. Tín dụng phải chảy vào sản xuất - kinh doanh, dự án có dòng tiền thật và khả năng trả nợ thật; hạn chế tối đa việc dòng tiền rẽ sang đầu cơ tài sản. Khi tín dụng tăng nhanh mà hấp thụ vốn không tương xứng, hệ quả thường không nằm ở tăng trưởng mà nằm ở giá tài sản tăng, rồi để lại nợ xấu. Vì vậy, nên chấp nhận một thực tế: tăng trưởng bền vững không thể đi kèm tăng trưởng tín dụng nóng.
Để tránh lạm phát, mấu chốt là kiểm soát kỳ vọng. Một khi người dân và doanh nghiệp tin rằng lạm phát sẽ tăng, hành vi giá cả sẽ tự đẩy lạm phát lên. Do đó, điều hành cần nhất quán, minh bạch, tránh những tín hiệu chính sách “giật cục”.
Đồng thời, nếu muốn hỗ trợ tăng trưởng bằng tài khóa thì phải làm theo hướng đầu tư công có chọn lọc, tập trung vào các dự án có độ lan tỏa cao, tháo điểm nghẽn hạ tầng và giảm chi phí kinh doanh; tuyệt đối tránh dàn trải, vì dàn trải vừa lãng phí vừa tạo áp lực giá cả mà không tạo năng lực cung mới.
Với bong bóng tài sản, lời khuyên là đừng đợi bong bóng rõ rồi mới siết. Giám sát vĩ mô phải dựa trên cảnh báo sớm: tốc độ tăng tín dụng vào bất động sản, tỷ lệ vay mua nhà trên thu nhập, dòng vốn ngắn hạn chảy vào các phân khúc rủi ro, mức tăng giá tách rời khỏi thu nhập và dòng tiền.
Khi thấy tín hiệu lệch pha, cần dùng công cụ “phanh đúng chỗ”: chuẩn tín dụng, hệ số rủi ro, quản trị trái phiếu doanh nghiệp, minh bạch thông tin thị trường… thay vì siết đồng loạt khiến doanh nghiệp sản xuất cũng bị “kẹt oxy”.
Tóm lại, giữ tăng trưởng nhưng tránh lạm phát và bong bóng là bài toán kỷ luật: tăng trưởng phải dựa vào cải cách, năng suất và hiệu quả đầu tư; tiền tệ không nên bị biến thành công cụ “gánh” tăng trưởng; và giám sát rủi ro phải chủ động, phanh đúng chỗ, đúng thời điểm. Khi làm được điều đó, Việt Nam có thể vừa đi nhanh hơn, vừa đi vững hơn.
Xin cảm ơn ông!











