Bồi dưỡng tư duy độc lập, phát triển năng lực tự chủ ở học sinh
Sự phát triển nhanh chóng của AI đang làm thay đổi cách học sinh tiếp cận tri thức.

Học sinh Trường THCS Quang Trung (phường Phố Hiến) tích cực tham gia xây dựng bài, rèn luyện tư duy độc lập.
Trí tuệ nhân tạo (AI) mở ra nhiều cơ hội đổi mới dạy và học, đồng thời đòi hỏi giáo viên không chỉ truyền đạt tri thức mà còn định hướng, phát triển tư duy độc lập, năng lực tự học và ý thức sử dụng công nghệ có trách nhiệm cho học sinh.
Làm chủ công nghệ
Sự phát triển nhanh chóng của AI đang làm thay đổi cách học sinh tiếp cận tri thức. Chỉ với vài thao tác, các em có thể tìm kiếm thông tin, giải bài tập, viết văn hoặc tóm tắt tài liệu. Tuy nhiên, tạo ra câu trả lời nhanh không đồng nghĩa với việc thực sự hiểu và làm chủ kiến thức. Đây cũng là thách thức đặt ra đối với giáo viên trong quá trình đổi mới giáo dục.
Theo Sở GD&ĐT tỉnh Hưng Yên, ngành đang từng bước thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý và dạy học. 100% cán bộ quản lý, giáo viên tại các cơ sở giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên được tập huấn sử dụng AI. Ngành cũng phát động phong trào ứng dụng AI trong thiết kế bài giảng tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, hướng tới xây dựng kho học liệu số dùng chung.
Là một trong những cơ sở được giao thí điểm dạy học AI, Trường THPT Nguyễn Huệ xác định đây là giải pháp phục vụ chuyển đổi số, đổi mới phương pháp giáo dục và đáp ứng yêu cầu của Chương trình GDPT 2018.
Ông Nguyễn Văn Hoàng, Hiệu trưởng nhà trường, cho biết năm học 2025-2026, trường triển khai 20 tiết học AI cho mỗi lớp. Năm học này, trường nâng lên 25 tiết, giao nhóm Tin học xây dựng kế hoạch bài dạy và tổ chức thực hiện ngay trong học kỳ I.
Ngoài các tiết học chuyên biệt về AI, giáo viên còn ứng dụng công nghệ để xây dựng bài giảng trực quan, thiết kế học liệu số, tạo tình huống học tập và xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp với năng lực học sinh. Nhờ đó, học sinh có thêm cơ hội tương tác, thảo luận, thực hành và giải quyết vấn đề.
Theo ông Hoàng, AI giúp học sinh tiếp cận thông tin, củng cố kiến thức và nhận phản hồi nhanh chóng; đồng thời hỗ trợ giáo viên đáp ứng tốt hơn sự khác biệt về năng lực, nhu cầu và tốc độ tiếp thu của từng em. Tuy nhiên, hiệu quả của giờ học không nằm ở việc sử dụng thêm công nghệ mà ở khả năng giúp học sinh hiểu sâu, chủ động đặt câu hỏi và vận dụng kiến thức.
Tại Trường THCS Quang Trung (phường Phố Hiến), việc ứng dụng AI cũng được triển khai theo hướng gắn với hiệu quả dạy học. Bà Bùi Thị Hải Yến, Phó Hiệu trưởng nhà trường, cho biết khoảng 60% cán bộ, giáo viên thường xuyên sử dụng AI trong công việc.
Giáo viên lựa chọn nội dung phù hợp để ứng dụng, từ xây dựng học liệu, thiết kế câu hỏi đến tạo hình ảnh trực quan và tổ chức hoạt động học tập. Qua thực tế, những bài học có hình ảnh sinh động, tình huống gần gũi và câu hỏi gợi mở thường thu hút học sinh tham gia, mạnh dạn trao đổi và chủ động tìm hiểu kiến thức.
Theo bà Yến, công nghệ chỉ phát huy giá trị khi được sử dụng đúng mục đích. Nếu AI chỉ làm bài giảng hấp dẫn hơn nhưng học sinh vẫn thụ động nghe, chép và tiếp nhận câu trả lời có sẵn, việc đổi mới khó đạt mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực. “Dù vậy, nhà trường luôn yêu cầu giáo viên lựa chọn công cụ phù hợp, kiểm chứng nội dung và đặt hiệu quả học tập lên hàng đầu”, bà Yến nhấn mạnh.

Giáo viên Trường THPT Nguyễn Huệ ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp dạy học.
Khơi dậy năng lực tự học
Theo thầy Vũ Đình Hiếu, Trưởng nhóm Vật lí, Trường THPT Nguyễn Huệ, AI có thể đưa ra lời giải chỉ trong vài giây. Vì vậy, yêu cầu đối với giáo viên không còn dừng ở việc truyền đạt kiến thức hay tìm đáp án đúng, mà phải tổ chức các hoạt động giúp học sinh biết đặt câu hỏi, giải thích lập luận, kiểm chứng thông tin và vận dụng kiến thức vào tình huống mới.
Từ đó, nhóm Vật lí điều chỉnh cách giao nhiệm vụ, chú trọng quá trình tư duy của học sinh. Với bài tập về định luật bảo toàn cơ năng, các em không chỉ tìm đáp số mà còn phải giải thích vì sao áp dụng định luật, lựa chọn công thức nào và dựa vào đâu để đưa ra kết luận.
“Trong các bài học về dao động, chúng tôi yêu cầu học sinh quay video chuyển động của vật, sử dụng phần mềm Tracker phân tích dữ liệu rồi so sánh kết quả với lý thuyết. Qua đó, các em trực tiếp quan sát, thu thập và xử lý số liệu, thay vì chỉ tiếp nhận lời giải từ AI”, thầy Hiếu cho biết.
Theo thầy Hiếu, giáo viên không nên máy móc cấm học sinh sử dụng AI mà cần hướng dẫn các em khai thác công cụ đúng cách. Thay vì yêu cầu AI giải toàn bộ bài tập, học sinh có thể đề nghị gợi ý bước đầu tiên, chỉ ra điểm chưa hợp lý trong cách giải hoặc đưa ra bài tương tự để tự luyện tập. Khi giao bài tập về nhà, giáo viên cũng có thể yêu cầu các em nêu rõ đã sử dụng AI ở khâu nào, kiểm tra kết quả ra sao và rút ra điều gì sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
Cùng với đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá cũng cần thay đổi. Bên cạnh bài viết, giáo viên tăng cường vấn đáp, thuyết trình, thực hành, làm việc nhóm và yêu cầu học sinh trực tiếp giải thích cách làm. Với bài tập có kết quả hoàn chỉnh, việc hỏi sâu về một bước suy luận hoặc yêu cầu vận dụng vào tình huống khác giúp đánh giá chính xác hơn mức độ hiểu bài.
Thầy Hiếu lưu ý, giáo viên cần chú ý những biểu hiện như bài làm ở nhà hoàn chỉnh nhưng học sinh không giải thích được, câu trả lời sử dụng nhiều thuật ngữ nhưng thiếu hiểu biết bản chất, hoặc các em phụ thuộc vào AI ngay cả với câu hỏi cơ bản. Tuy nhiên, thay vì vội kết luận, giáo viên cần trao đổi, kiểm tra thêm qua thực hành và yêu cầu học sinh tự trình bày lại.
Tại Trường THCS Quang Trung, cô Nguyễn Thị Phương, giáo viên chủ nhiệm lớp 8A2, cũng chú trọng sử dụng câu hỏi gợi mở như: “Vì sao em chọn cách làm này?”, “Có cách giải thích nào khác không?” hay “Nếu thay đổi tình huống thì kết quả sẽ thế nào?”. Theo cô, những câu hỏi này giúp học sinh trình bày suy nghĩ, đồng thời giúp giáo viên nhận biết mức độ hiểu bài của từng em.
Cô Phương còn tăng cường giao nhiệm vụ gắn với trải nghiệm, quan sát và ý kiến riêng của học sinh. Với những nhiệm vụ dài, cô chia thành từng bước, từ tìm ý, lập dàn ý đến hoàn thiện sản phẩm, kết hợp trao đổi, góp ý để theo dõi sự tiến bộ của các em.
“Đặc biệt, học sinh cần được hướng dẫn kiểm chứng thông tin do AI cung cấp. Các em phải kiểm tra đơn vị, công thức, điều kiện áp dụng và tính hợp lý của kết quả; đối chiếu thông tin với sách giáo khoa, tài liệu đáng tin cậy và các nguồn chính thống”, cô Phương chia sẻ.

Cô giáo Tạ Thị Lượng ứng dụng công nghệ trong giờ học tiếng Anh lớp 7A2, Trường THCS Quang Trung (phường Phố Hiến).
Vai trò giáo viên trong văn hóa AI
Đổi mới dạy học trong thời đại AI không chỉ là ứng dụng công nghệ mà còn phải giữ vững những giá trị cốt lõi của giáo dục như tính trung thực, tinh thần trách nhiệm, năng lực tự học, tư duy phản biện và sự phát triển toàn diện của học sinh.
Thầy Nguyễn Văn Hoàng cho rằng nhà trường cần có quy định rõ ràng về việc sử dụng AI trong học tập, phân định nhiệm vụ được phép sử dụng công nghệ hỗ trợ và những nhiệm vụ học sinh phải tự thực hiện. Việc tham khảo AI để tìm ý tưởng, luyện tập hoặc kiểm tra kiến thức có thể được khuyến khích; ngược lại, sao chép nguyên văn câu trả lời hoặc dùng AI để gian lận trong kiểm tra, đánh giá cần được chấn chỉnh.
Cùng với đó, học sinh cần được trang bị kỹ năng đặt câu hỏi, nhận diện thông tin sai lệch, tôn trọng bản quyền và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Các em cần hình thành thói quen tự suy nghĩ trước khi sử dụng AI, kiểm chứng kết quả và chịu trách nhiệm về sản phẩm cuối cùng.
Xây dựng văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm đòi hỏi sự phối hợp giữa nhà trường, giáo viên và gia đình. Nếu chỉ ngăn cấm mà không hướng dẫn, học sinh khó hình thành kỹ năng sử dụng công nghệ đúng cách. Ngược lại, nếu thiếu nguyên tắc rõ ràng, các em dễ hình thành thói quen phụ thuộc vào câu trả lời có sẵn.
Tại Trường THCS Quang Trung, nhà trường chú trọng trao đổi với phụ huynh về nguyên tắc sử dụng AI trong học tập, hướng dẫn cha mẹ đồng hành cùng con khi sử dụng thiết bị số. Những câu hỏi như “Con đã tự làm được phần nào?”, “Vì sao con chọn cách giải này?” hay “Thông tin này con đã kiểm tra chưa?” giúp phụ huynh quan tâm hơn đến quá trình học tập, thay vì chỉ nhìn vào kết quả cuối cùng.
Nguyễn Duy Khánh, học sinh lớp 9A3, Trường THCS Quang Trung, cho biết em thường tự làm bài trước, chỉ nhờ AI hỗ trợ khi gặp khó khăn. Sau khi nhận câu trả lời, em đối chiếu với sách giáo khoa, vở ghi rồi tự trình bày lại theo cách hiểu của mình. Nếu còn vướng mắc, em trao đổi thêm với giáo viên.
Trong khi đó, Đặng Thế Mạnh, học sinh lớp 12A13, Trường THPT Nguyễn Huệ, thường dùng AI để giải thích khái niệm chưa hiểu, gợi ý hướng giải bài tập, kiểm tra ngữ pháp tiếng Anh, tóm tắt tài liệu hoặc tìm ý tưởng cho dự án nhóm. Tuy nhiên, Mạnh không sao chép nguyên văn câu trả lời mà đọc từng bước rồi tự làm lại bài. Nếu chưa hiểu, em tiếp tục hỏi lý do thực hiện từng bước hoặc yêu cầu AI đưa ra bài tương tự để luyện tập.
Nam sinh cũng từng gặp trường hợp AI tính toán sai hoặc đưa ra mốc thời gian lịch sử không khớp với sách giáo khoa. Để kiểm chứng, em đối chiếu với sách giáo khoa, vở ghi, tự làm lại bài, tra cứu các trang web chính thống và hỏi thầy cô khi cần. “AI có thể sai nên không được tin tuyệt đối, mình phải hiểu bài thì mới phát hiện được chỗ sai của AI”, Mạnh chia sẻ.
Những trải nghiệm này cho thấy AI có thể hỗ trợ học sinh học tập hiệu quả, nhưng điều quan trọng là các em biết kiểm chứng thông tin và không nhầm lẫn giữa việc có đáp án với việc thực sự làm chủ kiến thức.
Theo thầy Hoàng, nhà trường định hướng giáo viên xây dựng câu hỏi mở, đưa ra tình huống thực tiễn, yêu cầu học sinh so sánh phương án, bảo vệ quan điểm và trình bày cách xử lý thông tin. Khi sử dụng AI, các em phải thể hiện được đóng góp của bản thân, thay vì coi sản phẩm do máy tạo ra là kết quả hoàn toàn của mình.
Điều này đòi hỏi giáo viên đổi mới cả phương pháp dạy học lẫn kiểm tra, đánh giá, chuyển trọng tâm từ đáp án sang năng lực tư duy, khả năng vận dụng và quá trình học tập của học sinh. AI có thể gợi ý lời giải nhưng không thể giúp các em hình thành năng lực giải quyết vấn đề nếu thiếu sự suy nghĩ và thực hành trực tiếp.
Một tiết học sử dụng nhiều công cụ AI chưa chắc hiệu quả nếu học sinh chỉ nghe và sao chép. Điều quan trọng là công nghệ giúp các em hiểu sâu, biết phản biện và tự tìm lời giải. Trong thời đại AI, vai trò của giáo viên càng đòi hỏi sự đổi mới; bởi bên cạnh việc cung cấp tri thức, định hướng cách giải quyết vấn đề, người thầy còn động viên, giáo dục nhân cách và xây dựng niềm tin cho học sinh.
Theo Sở GD&ĐT tỉnh Hưng Yên, các cơ sở giáo dục đã xây dựng gần 1.000 bài giảng và hơn 1.200 video bài giảng ứng dụng AI. Công nghệ này cũng được sử dụng trong hơn 7.600 tiết học cấp THCS và hơn 5.000 tiết cấp THPT, góp phần đổi mới phương pháp dạy học.

