Bốn nhóm khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu
Bộ Xây dựng vừa ban hành Thông tư 11/2026/TT-BXD quy định danh mục, quy cách và chỉ tiêu kỹ thuật khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu. Theo đó, 4 nhóm khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu phải có nguồn gốc hợp pháp.
Bốn nhóm khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu
Thông tư số 11 quy định danh mục, quy cách và chỉ tiêu kỹ thuật khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu thuộc nhóm II và nhóm III theo quy định tại khoản 38 Điều 1 Nghị định số 21/2026/NĐ-CP ngày 16/1/2026 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 2/7/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản và quy định chi tiết Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Địa chất và khoáng sản).

Các khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu phải bảo đảm có nguồn gốc hợp pháp. Ảnh: Minh họa.
Thông tư áp dụng đối với cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có hoạt động liên quan đến xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng tại Việt Nam.
Theo Phụ lục I ban hành kèm theo Thông tư số 11, danh mục các khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu bao gồm bốn nhóm.
Thứ nhất là cát oxit silic làm thủy tinh và kính xây dựng hoặc mục đích khác, với 5 mã HS (mã chuẩn hóa trong nhận diện và phân loại các loại hàng hóa trên toàn cầu).
Thứ hai là đá tự nhiên làm đá ốp lát, đá mỹ nghệ, với 12 mã HS.
Thứ ba là đá làm vật liệu xây dựng thông thường hoặc mục đích khác, với 5 mã HS.
Thứ tư là khoáng sản khác, với 7 mã HS.
Quy cách và chỉ tiêu kỹ thuật của các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu được quy định chi tiết tại Phụ lục I.
Khoáng sản làm vật liệu xây dựng xuất khẩu phải có nguồn gốc hợp pháp
Thông tư số 11 quy định khoáng sản làm vật liệu xây dựng xuất khẩu phải có nguồn gốc hợp pháp, bao gồm khoáng sản được được khai thác, thu hồi hoặc khoáng sản mua bán, vận chuyển trên lãnh thổ Việt Nam (trên cơ sở giấy phép khai thác khoáng sản hoặc giấy xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật về địa chất và khoáng sản).

Theo quy định tại Thông tư số 11, cát nghiền từ đá thạch anh nằm trong danh mục khoáng sản làm vật liệu xây dựng được phép xuất khẩu.
Hồ sơ xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng được thực hiện theo quy định của pháp luật về hải quan và pháp luật về quản lý ngoại thương.
Các bộ, ngành và địa phương liên quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Xây dựng tổ chức kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc chấp hành pháp luật trong hoạt động xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng tại các địa phương.
Cơ quan hải quan chủ trì kiểm tra hàng hóa xuất khẩu là khoáng sản làm vật liệu xây dựng theo quy định của pháp luật về hải quan; phối hợp với Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND cấp tỉnh trong trường hợp cần xác định rõ về danh mục, quy cách, chỉ tiêu kỹ thuật và nguồn gốc khoáng sản làm vật liệu xây dựng xuất khẩu;
Đồng thời, cơ quan hải quan có trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin, số liệu về tình hình xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng qua các cửa khẩu cho Bộ Xây dựng và UBND tỉnh khi có yêu cầu.
UBND cấp tỉnh phối hợp với Bộ Xây dựng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và chỉ đạo các cơ quan liên quan kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất đối với hoạt động xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng trên địa bàn.
Định kỳ hàng năm (hoặc đột xuất khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền), UBND cấp tỉnh báo cáo tình hình xuất khẩu khoáng sản (theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư số 11) trước ngày 30/1 hàng năm, để Bộ Xây dựng tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Doanh nghiệp xuất khẩu chịu trách nhiệm trước pháp luật về khoáng sản làm vật liệu xây dựng xuất khẩu, đảm bảo nguồn gốc hợp pháp và đáp ứng danh mục, quy cách, chỉ tiêu kỹ thuật khoáng sản làm vật liệu xây dựng xuất khẩu quy định tại Thông tư số 11.
Doanh nghiệp xuất khẩu lưu giữ, cung cấp hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp và quy cách, chỉ tiêu kỹ thuật của khoáng sản xuất khẩu theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền (bao gồm giấy phép khai thác khoáng sản hợp pháp; hợp đồng mua - bán khoáng sản; hóa đơn; phiếu phân tích chỉ tiêu kỹ thuật của tổ 3 chức thử nghiệm cấp; hợp đồng xuất khẩu và các tài liệu liên quan).
Lập báo cáo định kỳ hàng năm (hoặc đột xuất khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền) gửi UBND cấp tỉnh (nơi doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu), theo mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư số 11 trước ngày 15/1 hàng năm.
Thông tư số 11 nêu rõ: Đối với hồ sơ xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng đã đăng ký tờ khai hải quan trước ngày Thông tư này có hiệu lực được tiếp tục xử lý theo quy định hiện hành tại thời điểm đăng ký tờ khai. Trường hợp đăng ký tờ khai mới sau ngày Thông tư có hiệu lực thì thực hiện theo Thông tư số 11.
Thông tư số 11/2026/TT-BXD có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/6/2026. Cũng kể từ ngày này, Thông tư số 04/2021/TT-BXD ngày 30/6/2021 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng hết hiệu lực thi hành.











