Bước ngoặt trong quản trị và phát triển hệ sinh thái khoa học, công nghệ quốc gia
Chính thức vận hành ngày 11/9, Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (sti.gov.vn) đánh dấu bước đột phá về tư duy quản trị số. Vượt khỏi giới hạn một kho lưu trữ tĩnh, nền tảng chuẩn hóa dữ liệu xuyên suốt từ nghiên cứu đến ứng dụng, kết nối trực tiếp viện - trường với cộng đồng doanh nghiệp.
Ngày 11/9, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chính thức đưa Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vận hành. Sự kiện không chỉ đánh dấu việc ra mắt một nền tảng số hóa đơn thuần, mà còn thể hiện sự chuyển đổi mạnh mẽ trong phương thức quản lý nhà nước.
Hình thành hạ tầng dữ liệu đồng bộ, liên thông quốc gia
Được triển khai theo Quyết định số 1132/QĐ-TTg ngày 24/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ, Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (truy cập tại https://sti.gov.vn) là nền tảng số dùng chung cấp quốc gia.

Toàn cảnh lễ ra mắt Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ảnh: BKHVCN.
Nền tảng này làm nhiệm vụ kết nối, tích hợp, quản lý và chia sẻ toàn diện dữ liệu về hoạt động khoa học công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn đo lường chất lượng, cho đến thông tin về doanh nghiệp khoa học công nghệ, doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và hoạt động chuyển giao công nghệ.
Hệ thống đóng vai trò thiết yếu khi cung cấp nền tảng dữ liệu phục vụ cho 137 chỉ tiêu thống kê ngành khoa học, công nghệ và 17 chỉ tiêu thống kê quốc gia.
Về mặt hạ tầng kết nối, hệ thống đã liên thông với Trung tâm dữ liệu quốc gia, cho phép người dùng đăng nhập một lần (SSO) thông qua ứng dụng VNeID và sẵn sàng kết nối, chia sẻ dữ liệu thời gian thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Không chỉ vậy, hệ thống còn tự động đồng bộ thông tin giải quyết thủ tục hành chính với nền tảng của Bộ, đồng thời thu thập dữ liệu trích dẫn để phục vụ tính toán các chỉ số đánh giá chất lượng tạp chí và bài báo khoa học của Việt Nam.
Chuyển đổi tư duy: Dữ liệu là sản phẩm đầu ra cốt lõi
Tại sự kiện, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định khẳng định việc vận hành hệ thống mới chỉ là bước khởi đầu. Giá trị của hệ thống không nằm ở việc chúng ta có một phần mềm hiện đại đến đâu, mà nằm ở chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối, mức độ khai thác và hiệu quả thực tế mà hệ thống mang lại.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định phát biểu tại lễ ra mắt. Ảnh: BKHVCN.
Một điểm nhấn mang tính đột phá trong chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ là sự thay đổi tư duy quản trị xuyên suốt toàn bộ vòng đời của hoạt động nghiên cứu.
Thứ trưởng Lê Xuân Định chính thức yêu cầu các đơn vị khẩn trương rà soát, cập nhật lại quy trình đặt hàng nhiệm vụ khoa học. Theo đó, dữ liệu tạo ra từ quá trình nghiên cứu phải được định vị là một "sản phẩm" đầu ra bắt buộc, ngang hàng với các công bố quốc tế hay bằng đăng ký sáng chế, và nội dung này phải được đưa vào yêu cầu đánh giá ngay từ khâu xét duyệt.
Khi dữ liệu được chuẩn hóa, lưu trữ và tái sử dụng cho các nhiệm vụ tiếp theo, nền kinh tế sẽ tối ưu hóa được nguồn lực đầu tư của Nhà nước, đồng thời có thể khai phá thêm nhiều giá trị mới (data mining) từ nguồn tài nguyên này.
Mục tiêu cao nhất của cách thức quản lý mới là hệ thống hóa toàn bộ chuỗi công việc từ đầu vào (input), đầu ra (output) đến kết quả (outcome) và tác động (impact). Qua đó, cơ quan quản lý không chỉ nắm được số lượng đề tài hay mức kinh phí đầu tư, mà quan trọng hơn là đánh giá chính xác những kết quả nghiên cứu đó đã đóng góp giá trị thực tiễn gì cho nền kinh tế, xã hội và sự phát triển của đất nước.
Giảm gánh nặng hành chính, thúc đẩy thương mại hóa nghiên cứu
Hệ thống thông tin quốc gia không chỉ cung cấp công cụ phân tích cho cơ quan quản lý mà còn hướng tới mục tiêu thiết thực: kiến tạo một hệ sinh thái mở, thuận lợi cho cộng đồng nhà nghiên cứu và khối doanh nghiệp.
Đại diện Quỹ NAFOSTED cam kết sẽ kết nối hệ thống trực tuyến của Quỹ với nền tảng quốc gia nhằm hiện thực hóa nguyên tắc giảm gánh nặng hành chính.
Nguyên tắc cốt lõi được thống nhất là: dữ liệu đã có thì không yêu cầu khai báo lại; dữ liệu chỉ cần cập nhật một lần nhưng được khai thác nhiều lần. Sự liên thông này sẽ giúp các nhà khoa học trút bỏ được gánh nặng thủ tục giấy tờ, từ đó dành tối đa quỹ thời gian cho việc sáng tạo khoa học và giải quyết các bài toán thực tiễn.
Từ góc nhìn của một cơ quan ứng dụng cấp địa phương, nhiều đơn vị đánh giá hệ thống là cơ hội lớn để rút ngắn khoảng cách giữa nghiên cứu phòng thí nghiệm và ứng dụng thực tiễn.
Khi kho dữ liệu được mở và chia sẻ, doanh nghiệp sẽ dễ dàng tìm kiếm chuyên gia, tiếp cận các công nghệ mới và những kết quả nghiên cứu phù hợp với nhu cầu sản xuất, kinh doanh, từ đó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình thương mại hóa.

Các đại biểu tham dự sự kiện thực hiện nghi thức ra mắt Hệ thống thông tin quốc gia về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Ảnh: BKHVCN.
Đại diện cộng đồng nhà khoa học cũng đồng tình và kỳ vọng nền tảng này sẽ trở thành một hệ thống giao dịch, kết nối khoa học công nghệ hoàn chỉnh. Việc tham khảo các chuẩn mực quốc tế như cơ sở dữ liệu Scopus hay các hệ thống của khu vực sẽ giúp Việt Nam xây dựng được một nền tảng phân tích, đánh giá tiềm lực khoa học hiệu quả.
Tuy nhiên, sức sống của hệ thống phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ tham gia thực tế của người dùng. Để hệ thống không chỉ là một kho lưu trữ tĩnh mà thực sự trở thành hạ tầng kết nối tri thức, yếu tố tiên quyết là sự chung tay phối hợp, cung cấp và cập nhật dữ liệu thường xuyên từ các bộ ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp trên cả nước.
Khi mỗi tổ chức, cá nhân đều thấy được lợi ích và chủ động tham gia khai thác, đóng góp, hệ thống mới có thể phát huy tối đa hiệu quả, hiện thực hóa chủ trương đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước.

