BVBank: Lãi tăng gần 6 lần, nợ xấu tăng gấp đôi tốc độ tín dụng
BVBank lãi trước thuế 6 tháng tăng gần 6 lần, nhưng nợ xấu tăng 14,7%, nhanh gấp đôi tín dụng. Nợ nhóm 3, 4 tăng mạnh, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm.
Lợi nhuận quý II tăng vọt, thu nhập lãi thuần dẫn dắt
Báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2026 của Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank - mã chứng khoán: BVB) cho thấy kết quả kinh doanh cải thiện mạnh so với cùng kỳ năm trước.
Trong quý II, thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự đạt 2.963,1 tỷ đồng, tăng 50,6% so với cùng kỳ năm 2025. Chi phí lãi và các khoản chi phí tương tự ở mức 2.068 tỷ đồng.
Qua đó, thu nhập lãi thuần đạt 895,1 tỷ đồng, tăng 39% so với cùng kỳ. Đây tiếp tục là nguồn thu chủ lực của BVBank.

Tình hình làm ăn của BVBank trong quý II/2026.
Ở các mảng ngoài lãi, hoạt động dịch vụ ghi nhận lỗ thuần 9,1 tỷ đồng trong quý II, cao hơn mức lỗ 3,5 tỷ đồng cùng kỳ. Ngược lại, kinh doanh ngoại hối mang về 21,1 tỷ đồng, trong khi lãi thuần từ hoạt động khác đạt 33,2 tỷ đồng.
Tổng thu nhập hoạt động trong quý đạt khoảng 942,5 tỷ đồng, tăng 37,8% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chi phí hoạt động giảm khoảng 7%, xuống 452,8 tỷ đồng.
Nhờ thu nhập tăng mạnh trong khi chi phí hoạt động giảm, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đạt khoảng 489,7 tỷ đồng, tăng khoảng 150% so với cùng kỳ.
Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong quý II ở mức 157,9 tỷ đồng, thấp hơn cùng kỳ. Kết quả, lợi nhuận trước thuế đạt 331,8 tỷ đồng, so với 13,2 tỷ đồng cùng kỳ năm trước, tương đương cao gấp khoảng 25 lần. Lợi nhuận sau thuế đạt 264,8 tỷ đồng, so với 10,3 tỷ đồng cùng kỳ.
Lũy kế 6 tháng đầu năm, thu nhập lãi thuần của BVBank đạt 1.680,2 tỷ đồng, tăng 46,3% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế đạt 547,4 tỷ đồng, tăng khoảng 485,8%, trong khi lợi nhuận sau thuế đạt 437,2 tỷ đồng, tăng 487,3%.
Với kết quả này, BVBank đã hoàn thành khoảng 78% mục tiêu lợi nhuận trước thuế 700 tỷ đồng cho cả năm 2026.
Thu nhập lãi tăng mạnh, NIM là một trong những động lực chính
Đằng sau mức tăng mạnh của lợi nhuận là sự cải thiện đáng kể của nguồn thu từ hoạt động cốt lõi.
Theo dữ liệu từ báo cáo tài chính, thu nhập lãi từ cho vay khách hàng trong 6 tháng đầu năm đạt khoảng 4.213,6 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Thu nhập lãi từ tiền gửi đạt khoảng 1.064,7 tỷ đồng, tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước.
Cùng với đó, dư nợ cho vay khách hàng đến cuối tháng 6/2026 đạt 83.385,1 tỷ đồng, tăng 7,3% so với cuối năm 2025.
BVBank cho biết thu nhập lãi thuần tăng nhờ quy mô tín dụng tiếp tục mở rộng, đồng thời ngân hàng quản lý cơ cấu nguồn vốn hiệu quả, qua đó cải thiện biên lãi ròng (NIM) và khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh cốt lõi. Dữ liệu phân tích BCTC ghi nhận NIM trượt 12 tháng của BVBank tại quý II/2026 ở mức 2,67%.
Chi phí được kiểm soát, CIR giảm mạnh
Song song với việc cải thiện thu nhập lãi, BVBank cũng ghi nhận sự chuyển biến tích cực ở phía chi phí.
Trong quý II/2026, chi phí hoạt động giảm xuống 452,8 tỷ đồng, trong khi tổng thu nhập hoạt động đạt khoảng 942,5 tỷ đồng. Theo đó, tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) ở mức khoảng 48%, thấp hơn đáng kể mức khoảng 71,3% của cùng kỳ năm trước.
Tính chung 6 tháng đầu năm, tổng thu nhập hoạt động của BVBank đạt khoảng 1.840,5 tỷ đồng, trong khi chi phí hoạt động ở mức 920,4 tỷ đồng. CIR tương ứng khoảng 50%.
Việc CIR giảm cho thấy tốc độ tăng thu nhập đang cao hơn đáng kể tốc độ tăng chi phí vận hành. Đây là yếu tố quan trọng góp phần cải thiện lợi nhuận trước dự phòng của BVBank trong nửa đầu năm.
Như vậy, trong quý II, BVBank đồng thời hưởng lợi từ hai yếu tố: thu nhập lãi thuần tăng mạnh và chi phí hoạt động được kiểm soát. Sự kết hợp này giúp lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng đạt gần 490 tỷ đồng, cao gấp khoảng 2,5 lần cùng kỳ.
Tín dụng tăng 7,3%, nhưng nợ xấu tăng nhanh hơn
Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản BVBank đạt 141.974,4 tỷ đồng, tăng 6,7% so với cuối năm 2025.
Dư nợ cho vay khách hàng đạt 83.385,1 tỷ đồng, tăng 7,3%. Trong khi đó, tiền gửi khách hàng đạt 81.338,1 tỷ đồng, tăng 13,9% so với cuối năm 2025.
Như vậy, tiền gửi khách hàng đang tăng nhanh hơn dư nợ cho vay, giúp cải thiện tương quan giữa huy động và tín dụng trong nửa đầu năm.
Nếu lấy dư nợ cho vay khách hàng chia cho tiền gửi khách hàng, tỷ lệ này vào khoảng 102,5%, thấp hơn mức khoảng 108,8% cuối năm 2025. Đây là phép so sánh giữa hai khoản mục trên bảng cân đối, không phải tỷ lệ LDR theo quy định.
Một điểm đáng chú ý khác là tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác đạt 17.504 tỷ đồng. Trong khi đó, phát hành giấy tờ có giá còn 24.427,9 tỷ đồng, giảm khoảng 8,5% so với cuối năm 2025.
Tuy nhiên, phía sau đà tăng của tín dụng là vấn đề chất lượng tài sản.
Theo thuyết minh BCTC, tổng nợ nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 của BVBank tại cuối tháng 6/2026 đạt khoảng 2.686 tỷ đồng, tăng 14,7% so với cuối năm 2025.

Cơ cấu chất lượng nợ vay của BVBank.
Đáng chú ý, tốc độ tăng của nợ xấu cao hơn đáng kể tốc độ tăng dư nợ cho vay khách hàng. Trong khi tín dụng tăng 7,3%, tổng nợ nhóm 3-5 tăng 14,7%.
Đặc biệt, áp lực không chỉ nằm ở nhóm 5. Nợ nhóm 3 - nợ dưới tiêu chuẩn tăng 53,9%, lên 432,3 tỷ đồng; nợ nhóm 4 - nợ nghi ngờ tăng 32,6%, lên 523,7 tỷ đồng. Trong khi đó, nợ nhóm 5 - các khoản nợ có khả năng mất vốn tăng 3,9%, lên 1.730 tỷ đồng.
Diễn biến này đáng chú ý bởi sự gia tăng mạnh của nợ nhóm 3 và nhóm 4 cho thấy áp lực chất lượng tín dụng đang xuất hiện ở các nhóm nợ có mức độ rủi ro thấp hơn nhóm 5. Nếu không được xử lý và thu hồi hiệu quả, một phần các khoản nợ này có thể tiếp tục chuyển nhóm trong các kỳ tiếp theo.
Theo dữ liệu phân tích BCTC, tỷ lệ nợ xấu của BVBank tại cuối quý II ở mức khoảng 3,3%, tăng so với 3,11% cuối quý I/2026. Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống khoảng 42,5%, từ mức 45,7% cuối quý I.
Dư nợ tập trung lớn ở thương mại và bất động sản
Cơ cấu tín dụng của BVBank cũng là một điểm đáng lưu ý.
Trong đó, nhóm bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy chiếm tỷ trọng lớn nhất với 33.030 tỷ đồng, tương đương khoảng 39,6% tổng dư nợ. Dư nợ nhóm này tăng đáng kể so với mức 25.643 tỷ đồng hồi đầu năm.
Đứng thứ hai là hoạt động kinh doanh bất động sản, với dư nợ 25.048 tỷ đồng, chiếm khoảng 30% tổng dư nợ. So với cuối năm 2025, dư nợ bất động sản tăng gần 2.000 tỷ đồng, từ 23.088 tỷ đồng lên mức hiện tại.
Bên cạnh đó, dư nợ hoạt động làm thuê cho hộ gia đình và sản xuất tự tiêu dùng đạt 7.964 tỷ đồng, tương đương khoảng 9,5%.

Cơ cấu dư nợ cho vay theo ngành của BVB.
Ở các nhóm ngành khác, dư nợ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đạt 5.671 tỷ đồng. Xây dựng đạt 3.971 tỷ đồng, giảm so với 4.780 tỷ đồng cuối năm 2025. Trong khi đó, dư nợ dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm gần 50%, từ 4.916 tỷ đồng xuống 2.495 tỷ đồng. Dư nợ công nghiệp chế biến, chế tạo ở mức 2.092 tỷ đồng.
Như vậy, danh mục cho vay của BVBank tập trung đáng kể vào thương mại và bất động sản. Riêng hai nhóm này chiếm khoảng 69,6% tổng dư nợ theo số liệu được phân loại trong BCTC.
Trong bối cảnh nợ xấu tăng nhanh hơn tín dụng, diễn biến chất lượng tài sản tại những lĩnh vực có dư nợ lớn sẽ là yếu tố cần được theo dõi sát trong các quý tới.
Tăng trưởng nhanh đặt yêu cầu củng cố bộ đệm vốn
Đến cuối tháng 6/2026, tổng nợ phải trả của BVBank đạt 134.052,8 tỷ đồng, trong khi vốn chủ sở hữu ở mức 7.921,6 tỷ đồng.
Vốn chủ sở hữu tăng khoảng 6,2% so với cuối năm 2025, thấp hơn tốc độ tăng 13,9% của tiền gửi khách hàng và 7,3% của dư nợ cho vay.
Vốn điều lệ của ngân hàng ở mức 6.408,2 tỷ đồng. Lợi nhuận chưa phân phối đạt khoảng 1.090,8 tỷ đồng.
Bức tranh BVBank trong nửa đầu năm 2026 đang có hai mặt rõ rệt.
Ở chiều tích cực, ngân hàng đã cải thiện mạnh hoạt động kinh doanh cốt lõi. Thu nhập lãi thuần tăng 46,3%, tổng thu nhập hoạt động tăng mạnh, trong khi chi phí hoạt động được kiểm soát, giúp CIR giảm đáng kể. Lợi nhuận trước thuế đạt 547,4 tỷ đồng, hoàn thành khoảng 78% kế hoạch năm.
Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng vẫn là vấn đề cần được đặt lên bàn cân.
Tốc độ tăng nợ xấu cao gấp khoảng 2 lần tốc độ tăng dư nợ. Đáng chú ý, nợ nhóm 3 và nhóm 4 tăng lần lượt 53,9% và 32,6%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm.
Cùng với đó, nguồn thu của BVBank vẫn phụ thuộc lớn vào thu nhập lãi thuần, trong khi hoạt động dịch vụ chưa tạo được đóng góp tích cực. Danh mục tín dụng cũng tập trung đáng kể vào thương mại và bất động sản.
Vì vậy, câu chuyện của BVBank trong nửa cuối năm 2026 không chỉ nằm ở khả năng vượt kế hoạch lợi nhuận. Quan trọng hơn là ngân hàng có duy trì được tốc độ tăng trưởng thu nhập mà không phải đánh đổi bằng sự gia tăng của nợ xấu và chi phí tín dụng hay không.
Đây sẽ là phép thử đối với chất lượng và tính bền vững của đà tăng trưởng lợi nhuận BVBank trong những quý còn lại của năm.
BVBank và dòng vốn xanh: Từ tín dụng ưu đãi đến chuyển đổi bền vững
BVBank đã triển khai các chương trình tín dụng xanh hướng dòng vốn vào những hoạt động có yếu tố tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo và sản xuất nông nghiệp theo các tiêu chuẩn xanh.
Theo thông tin công bố trên website, các nhu cầu vốn được BVBank xếp vào nhóm tín dụng xanh gồm đầu tư máy móc, dây chuyền tiết kiệm nhiên liệu; hệ thống điện mặt trời và thiết bị tạo năng lượng tái tạo; hoạt động nuôi trồng theo các mô hình VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ, VietGAHP; cũng như nhu cầu mua các thiết bị tiết kiệm năng lượng, ô tô hybrid và ô tô điện.
BVBank cũng duy trì các sản phẩm và chương trình ưu đãi liên quan đến tín dụng xanh. Một chương trình cho vay tiêu dùng của ngân hàng hiện cho phép khách hàng tham gia chương trình tín dụng xanh hoặc một số sản phẩm đặc thù được hưởng mức giảm lãi suất tối đa 2%/năm.
Ở góc độ phát triển bền vững, BVBank cho biết định hướng năm 2026 là tăng trưởng hiệu quả, an toàn và bền vững, đồng thời tập trung vào khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngân hàng cũng nhấn mạnh việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro, đầu tư công nghệ và chuyển đổi số.
Tuy nhiên, để đánh giá đầy đủ mức độ đóng góp của BVBank đối với tài chính xanh, cần theo dõi thêm các chỉ tiêu định lượng như dư nợ tín dụng xanh, tỷ trọng tín dụng xanh trong tổng dư nợ, số lượng dự án được tài trợ, mức giảm phát thải hoặc tác động môi trường của các dự án. Đây là những dữ liệu quan trọng để phân biệt giữa việc triển khai sản phẩm tín dụng xanh và một chiến lược tài chính xanh có quy mô, tác động thực chất.
