Cá tra ra biển: đã có điều kiện cần, chờ điều kiện đủ

Bên cạnh phát triển ở vùng nuôi truyền thống, ngành cá tra Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang có thêm cơ hội 'mở rộng' không gian về hướng biển nhờ chọn tạo thành công con giống có khả chịu mặn. Tuy nhiên, để cơ hội này trở thành hiện thực, các địa phương cần chủ động đưa vào quy hoạch vùng nuôi bài bản nhằm phát triển bền vững.

Cá tra chịu mặn mở ra cơ hội mới cho ngành thủy sản chủ lực này của ĐBSCL: Ảnh: KA

Cá tra chịu mặn mở ra cơ hội mới cho ngành thủy sản chủ lực này của ĐBSCL: Ảnh: KA

Giống chịu mặn “mở thêm” cơ hội mới

Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung, Giám đốc mảng thủy sản của Tập đoàn De Heus, cho rằng biến đổi khí hậu tại ĐBSCL ngày càng gay gắt, khiến xâm nhập mặn gia tăng cả về nồng độ lẫn diện tích ảnh hưởng.

Thực tế, theo ông Phạm Đức Luận, Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), do những thay đổi đáng kể của dòng chảy về ĐBSCL từ tác động của các hồ chứa ở thượng nguồn, những năm gần đây xâm nhập mặn xuất hiện sớm hơn khoảng 1-1,5 tháng so với giai đoạn trước năm 2013.

Không chỉ đến sớm, tần suất xâm nhập mặn cực đoan cũng diễn ra nhiều hơn khi 10 năm gần đây, ĐBSCL đã trải qua 3 đợt xâm nhập mặn lớn. Cụ thể, mùa khô 2015-2016, ranh mặn 4 gam/lít xâm nhập sâu vào đất liền 60-73 km tính từ cửa sông; mùa khô 2019-2020 vào sâu 70-80 km; còn mùa khô 2023-2024 dù nhẹ hơn nhưng vẫn vào sâu khoảng 45-55 km.

Mặn xâm nhập càng sâu đồng nghĩa không gian sản xuất nước ngọt càng bị thu hẹp. Mặn lấn sâu thêm 1 km thì vùng sản xuất nước ngọt cũng mất đi tương ứng 1 km.

Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu, chọn tạo thành công giống cá tra có khả năng sống và phát triển trong môi trường nước mặn mở ra thêm cơ hội cho ngành hàng chủ lực này của ĐBSCL.

Theo ông Nguyễn Thanh Phương, đồng chủ nhiệm dự án phát triển cá tra chịu mặn (PANGAGEN) do Trường Thủy sản (Đại học Cần Thơ) phối hợp với các đối tác triển khai, giống cá tra thế hệ đầu (G1) có thể sinh trưởng tốt trong môi trường nước mặn 5-10 phần ngàn.

Theo đó, từ 870 cá tra bố mẹ (G0) được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nhằm đảm bảo đa dạng di truyền, dự án PANGAGEN đã tạo được đàn cá thế hệ G1 có khả năng chịu mặn, sau 3 đợt chọn lọc các cá thể tăng trưởng nhanh trong môi trường nước mặn 10 phần ngàn.

Theo ông Phương, hiện Trường Thủy sản đang tiếp tục chọn lọc để tạo ra thế hệ thứ hai (G2), với kỳ vọng có khả năng thích nghi và phát triển ổn định hơn trong môi trường nước mặn.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu, cho thấy cá tra G1 nuôi trong môi trường nước mặn 5-10 phần ngàn có tốc độ tăng trưởng tương đương cá nuôi đối chứng trong môi trường nước ngọt.

Được biết, cá tra giống nước ngọt, loại 25-30 con/kg sau khoảng 6 tháng nuôi đạt trọng lượng 0,8-1,2 kg/con để thu hoạch phục vụ chế biến xuất khẩu. Trong khi đó, giống cá tra chịu mặn nuôi ở độ mặn 5-10 phần ngàn cũng cho kết quả tương tự.

Ông Ong Hàng Văn, Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần thủy sản Trường Giang, đánh giá việc nghiên cứu và phát triển thành công giống cá tra chịu mặn sẽ mở thêm cơ hội phát triển mới cho ngành hàng chủ lực này tại khu vực ven biển ĐBSCL.

Cần quy hoạch để phát triển bền vững ngành cá tra nước mặn. Ảnh: KA

Cần quy hoạch để phát triển bền vững ngành cá tra nước mặn. Ảnh: KA

Cần chủ động quy hoạch vùng nuôi

Bà Mỹ Dung của De Heus kỳ vọng, nếu xây dựng được thương hiệu cá tra nước mặn, sản phẩm này có thể tạo lợi thế cạnh tranh mới trên thị trường xuất khẩu, qua đó mang lại giá trị cao hơn. Đặc biệt, cá tra nước mặn sẽ góp phần thúc đẩy mô hình phát triển kinh tế thuận thiên thay vì “chống lại” xâm nhập mặn như trước đây.

Nếu con giống cá tra nước mặn được xem là điều kiện cần thì các địa phương ĐBSCL cần thêm điều kiện đủ, đó là chủ động quy hoạch vùng nuôi nhằm tận dụng cơ hội mở rộng không gian phát triển trong thời gian tới.

Là một trong những địa phương có lợi thế lớn về biển sau sáp nhập, ông Nguyễn Văn Hòa, Phó chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ, cho biết sau khi được Chính phủ chấp thuận chủ trương, địa phương đang hoàn thiện quy hoạch chung và dự kiến hoàn thành vào cuối năm 2026. “Quy hoạch này dựa trên nền tảng quy hoạch thành phố giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050”, ông Hòa cho biết.

Theo ông Hòa, thời gian qua, nhiều nhà đầu tư chiến lược đã đến Cần Thơ nghiên cứu và đề xuất các dự án trọng điểm, trong đó, có các dự án phát triển kinh tế biển nhằm bổ sung, hoàn thiện định hướng quy hoạch địa phương.

Ông Trương Cảnh Tuyên, Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ, cho rằng khu vực biển Trần Đề có tiềm năng lớn để hình thành vùng nuôi tập trung quy mô khoảng 300 héc ta nhờ lợi thế quỹ đất và hạ tầng thuận lợi. Đặc biệt, khi cảng biển Trần Đề được đầu tư, cá tra nuôi ở vùng ven biển có thể xuất khẩu trực tiếp, giúp giảm đáng kể chi phí logistics.

Theo ông Hàng Văn của thủy sản Trường Giang, việc đưa vùng nuôi vào quy hoạch để bố trí không gian sản xuất và phát triển trung tâm chế biến mới là rất cần thiết. Lý do là khoảng cách từ vùng ven biển đến các nhà máy chế biến cá tra hiện hữu đang là rào cản đáng kể. Cá sau thu hoạch cần được đưa về nhà máy trong khoảng 5-10 giờ là tốt nhất nếu quá 10 giờ thì hao hụt rất cao.

Bà Dung của De Heus cho rằng, cần quy hoạch vùng nuôi tập trung công nghệ cao, gắn với chuỗi khép kín từ con giống, thức ăn, nuôi trồng đến chế biến và xuất khẩu. Khi có quy hoạch rõ ràng, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư bài bản ngay từ đầu thông qua ứng dụng công nghệ nuôi tuần hoàn, giúp ngành phát triển bền vững hơn nhờ đầu vào và đầu ra được quản lý chặt chẽ.

Tuy nhiên, giám đốc một doanh nghiệp thủy sản ở ĐBSCL (đề nghị không nêu tên), cho rằng quy hoạch là cần thiết nhưng quan trọng không kém là phải biến quy hoạch thành hiện thực thông qua nguồn lực đầu tư cùng cơ chế, chính sách ưu đãi phù hợp để thu hút doanh nghiệp tham gia.

Vị này dẫn chứng, năm 2017, tỉnh Bạc Liêu cũ từng đặt mục tiêu trở thành thủ phủ tôm công nghệ cao của cả nước. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đến nay mục tiêu này vẫn chưa đạt như kỳ vọng. “Đây là vấn đề cần lưu ý nếu muốn đưa cá tra về vùng nước mặn”, vị này nói.

Theo ông Hàng Văn, nếu xây dựng được hệ sinh thái hoàn chỉnh ngay tại vùng nuôi, bao gồm con giống, thức ăn, chế biến và hạ tầng logistics, ngành cá tra nước mặn sẽ có lợi thế cạnh tranh rất lớn, đặc biệt về giá thành.

Rõ ràng, sau khoảng 30 năm hình thành và phát triển, ngành cá tra ĐBSCL đang có thêm cơ hội mở rộng không gian phát triển về hướng biển. Điều này, không chỉ giúp phát triển kinh tế cho ĐBSCL, mà còn góp phần thích ứng tốt hơn với điều kiện tự nhiên.

Trung Chánh

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/ca-tra-ra-bien-da-co-dieu-kien-can-cho-dieu-kien-du/