Các bài hát đồng dao
LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936)
Nguyễn Văn Vĩnh còn là một dịch giả tài hoa. Ông dịch Hán văn sang Pháp văn, dịch Pháp văn sang chữ Quốc ngữ, với đủ thể loại: thơ, tiểu thuyết, kịch, truyện… Đặc biệt, ông là người đầu tiên dịch Truyện Kiều từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ; dịch Truyện Kiều từ chữ Quốc ngữ sang tiếng Pháp và được coi là một trong những bản dịch tiếng Pháp đầu tiên, được giới học giả đánh giá cao về sự tinh tế trong truyền tải giá trị văn hóa của tác phẩm.
Từ nhiều năm nay, ông Nguyễn Lân Bình, cháu nội học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đã cất công sưu tầm, tuyển chọn, dịch những bài báo của ông nội xuất bản cách đây gần 1 thế kỷ để in thành sách.
"Các bài hát đồng dao" được Nguyễn Văn Vĩnh viết và in trên Báo L'Annam Nouveau (Nước Nam mới) số 441 ngày 5/5/1935. Đây là tờ báo Nguyễn Văn Vĩnh lập năm 1931, in bằng tiếng Pháp và đã đoạt giải thưởng Grand Prix tại Hội chợ báo chí thuộc địa tổ chức tại Paris năm 1932.
ANTG Giữa tháng - Cuối tháng Xuân Bính Ngọ xin giới thiệu cùng bạn đọc.
Các bài đồng dao chính là thứ tài liệu còn thiếu và cần thiết phải có một vị trí xứng đáng. Vị trí này, trước tiên phải có trong tủ sách thường ngày của mọi trẻ em, những đứa trẻ vì do thiếu thư viện dành riêng cho chúng, và chúng đành bằng lòng với việc đọc các loại báo hàng ngày, một thứ sản phẩm chuyên cung cấp các tin tức, sự kiện mà qua đó bọn trẻ chỉ nhìn thấy các mặt trái tiêu cực. Các em sẵn sàng vùi đầu vào các loại truyện như: trinh thám, tiểu thuyết lãng mạn; chúng học được ở đó các trò trộm cắp, các chiến tích của các băng nhóm tội phạm nguy hiểm. Các em cũng sẵn sàng đọc cả các sách truyền thuyết phiêu lưu với các gương anh hùng chỉ có trong sự tưởng tượng. Ngoài ra, những loại tư liệu này cũng cần có vị trí trong số các tài liệu cần thiết phục vụ nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử của một đất nước, một dân tộc đã sản sinh ra nó.
Có cuốn sách nào giá trị hơn như một kho tàng chứa những lời rủ rỉ, âu yếm, kèm theo cả những vần điệu mà người mẹ, người chị hay vú nuôi đã dạy cho con trẻ ngay từ khi các em líu lô tập nói những từ ngữ đầu tiên trong đời?
Các bài hát đó thật tuyệt vời bởi chính sự giản dị của nó. Và cũng bởi sự đơn giản một cách có chủ ý, đôi khi tưởng như vô nghĩa, không phải lúc nào các bài đồng dao cũng được các nhà sư phạm sử dụng như những tài liệu giáo dục cho những bộ óc non trẻ của trẻ thơ. Các khổ thơ thường khó hiểu, đôi khi bóng gió, vẻ như nước đôi; nhưng chính tính cổ xưa của các bài ca này cùng với sự khó hiểu, mập mờ đó lại cũng chính là cái dáng vẻ hấp dẫn rất đặc trưng, buộc trí tưởng tượng của con người phải hoạt động và khoác lên cái khung thời xa xưa sự huyền bí vừa quyến rũ vừa đáng kinh ngạc.
Ngay trong các thể loại văn truyền miệng cũng có những dị bản riêng của nó. Chính các dị bản đã khiến cho việc xuất bản loại tư liệu này có những chỗ khiếm khuyết và các lỗi in ấn, điều người ta thường gặp trong các ấn phẩm cũ. Rất không may là không phải lúc nào các dị bản này cũng hiện hữu, người ta thường chỉ chấp nhận một số từ cổ, mục đích để đem lại cho bài hát dáng vẻ riêng khi cần dung hòa lối suy nghĩ cũ với sự việc đương thời, hoặc để thế chỗ cho các sáng tác đương đại bằng những điều mà cha ông chúng ta hằng ngợi ca.
Điều này khiến cho công việc của các nhà nghiên cứu hoặc công việc sưu tập trở nên khó khăn. Các bài hát cổ thường chỉ còn phần khung là giữ được nguyên bản, nó thay đổi mốt liên tục qua các thời kỳ và theo các địa phương. Ngay một bài đơn giản và phổ biến nhất cũng có hàng lô các phiên bản và để tìm hiểu cần phải có các nghiên cứu thật sâu tại các làng quê, nơi ít chịu ảnh hưởng của cuộc sống đô thị với những ảnh hưởng ngoại lai. Cần có sự đối chiếu một cách sáng suốt các kết quả tìm kiếm nhằm phân biệt những xuất xứ tư tưởng của các tác giả vô danh thời xa xưa với những gì mà các thế hệ tiếp theo sau đã thêm thắt vào.
Đó là công việc dành cho các học giả, các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian cần chuyên tâm xem xét. Tuy nhiên, công việc này cũng cần có một người nào đó khởi động, cho dù có thể chỉ là để tạo ra một tiền đề cho công cuộc nghiên cứu và tranh luận.
Chúng tôi mạnh dạn nêu ra ý kiến này và để nó trở nên hữu ích, cần có sự hỗ trợ từ phía các độc giả. Có khoảng một trăm bài hát đã được chúng tôi sưu tầm. Chúng tôi sẽ xuất bản dưới dạng những cuốn sách mỏng trong một bộ sưu tập và sẽ được những người khởi xướng giới thiệu ra công chúng vào một thời điểm thích hợp. Chúng tôi cũng tin rằng, sau tập sách đầu tiên này, sẽ tiếp tục có những lần tái bản kế tiếp vì sự chưa hoàn thiện và bởi nội dung các bài sưu tập chưa được chính thức hóa. Do vậy, chúng tôi kính mong các độc giả sẽ tham gia đóng góp để tạo điều kiện thuận lợi cho những người có trách nhiệm hoàn thiện bộ sưu tập thêm phần hấp dẫn.
Ngay từ bây giờ, chúng ta có thể thực hiện việc phân loại.
Chúng ta làm theo trật tự với tính thông dụng và độ khó của các bài hát. Chúng ta sẽ xét đến loại hình đầu tiên bao gồm các bài hát mà bọn trẻ thường hát trong khi chơi các trò chơi tuổi thơ, đầu đời. Nhìn từ bài Chi Chi Chành Chành, trong bài này, một em bé đặt ngón tay của mình vào lòng bàn tay xòe ra của người cùng chơi, tiếp đến là phải rút ngón tay lại đúng lúc khi câu từ ập cuối bài phát ra để làm sao khỏi bị bàn tay của người cùng chơi nắm (bắt) được... Cho đến các trò chơi phức tạp hơn như trò Thả Đỉa Ba Ba. Trong trò này, câu từ cuối cùng của bài hát chỉ định em bé sẽ "bị" làm đỉa và em bé này chỉ được thay phiên khi có một em bé khác bắt "tóm" được.
Tiếp theo còn nhiều các bài hát không đi kèm theo với trò chơi. Ở các bài hát này, ý nghĩa của nó dĩ nhiên sáng sủa hơn nếu so với các bài hát có kèm theo trò chơi. Trong các bài hát có kèm theo trò chơi, ý nghĩa của lời ca chủ yếu được thể hiện thông qua các động tác cơ thể.
Rồi còn phải kể đến các bài hát ru, các bài hát đã được các mẹ, các chị và các vú nuôi hát chủ yếu dành cho chính họ hơn là cho em bé, các sinh linh bé nhỏ mới chỉ nhận biết được nhịp điệu của các bài hát và đặc biệt là các điệp khúc có tác dụng là sự ru ngủ, như: E... ! A...a.... ! bồng bống... ! ời ơi...!

Những bài đồng dao được học giả Nguyễn Văn Vĩnh sưu tầm và in thành sách do Nhà xuất bản Alexandre de Rhodes xuất bản tại Hà Nội năm 1942
Để ru cho các em bé ngủ, các mẹ, các chị và các vú nuôi hát tất cả những gì mà họ biết, họ thuộc. Họ hát cả các đoạn thơ của truyện Kiều. Tuy nhiên, chỉ có khoảng hai chục bài hát ru là có nội dung dân dã hấp dẫn với một số các đoạn điệp khúc đi kèm theo. Các điệp khúc này, nếu khi ta thêm vào ở một bài hát nào đó, cũng có thể biến tất cả các bài hát bình thường thành lối hát ru.
Cuối cùng là các làn điệu hát ví. một cách thức so sánh rất hay mà qua đó, người hát thiết lập được mối tương quan rất bất ngờ giữa các sự vật và sự việc. Rồi lối hát ĐỐ, là lối hát mà thông qua đó để ra các câu đố, đoán.
Truyện cổ tích là một loại chuyện kể mà nhờ việc tái hiện các tình tiết một cách trung thực như nó phát ra từ miệng của những người già còn khó khăn hơn so với việc biên soạn lại một cách thông thái, công việc mà các tác giả vẫn làm và xuất bản cho đến tận bây giờ.
Chúng tôi hy vọng công việc này sẽ góp phần tô điểm cho vẻ đẹp của ngôn ngữ của chúng ta hơn là các sáng tạo kỳ quặc của các văn sĩ tự cho mình là cách tân.
Nguồn ANTG: https://antgct.cand.com.vn/so-tay/cac-bai-hat-dong-dao-i795940/










