Các trợ lực tạo đà 'bứt phá' của ngành sản xuất công nghiệp
Theo báo cáo của Cục Thống kê, Bộ Tài chính vừa công bố, sản xuất công nghiệp (IIP) trong quý III/2026 tiếp tục duy trì tăng trưởng hai con số, ước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung, 9 tháng năm 2026, IIP ước tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng chín tháng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,9%.

Công nhân Công ty TNHH Sailun Việt Nam thực hiện các công đoạn sản xuất lốp xe trên dây chuyền công nghệ hiện đại tại Khu công nghiệp Phước Đông. Ảnh: Thanh Tân/TTXVN
Theo bà Phí Thị Hương Nga, Trưởng ban Thống kê công nghiệp và xây dựng, Cục Thống kê, bức tranh lan tỏa của ngành công nghiệp 9 tháng năm 2026 thể hiện rõ qua các yếu tố tích cực như: về tổng thể, tính lan tỏa trên toàn bộ không gian kinh tế và các ngành công nghiệp cấp I (chế biến chế tạo, sản xuất và phân phối điện, cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải và khai khoáng)
Toàn bộ 34/34 tỉnh, thành phố trên cả nước đều duy trì tốc độ tăng Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) dương. Bên cạnh các trung tâm FDI lớn như: Thái Nguyên tăng 23,2%, Bắc Ninh tăng 20,2%, Hải Phòng tăng 15,2%, đà tăng còn ghi nhận rất cao ở các địa phương phát triển công nghiệp nội địa, hạ tầng năng lượng và vật liệu như: Hà Tĩnh tăng 40,2%, Ninh Bình tăng 25%, Nghệ An tăng 21,5%, Phú Thọ tăng 21,5%, Quảng Ninh tăng 18,6%.
Cùng với đó, bà Phí Thị Hương Nga cho biết, trên phạm vi cả nước, cả 4 ngành công nghiệp cấp I đều tăng trưởng dương; trong đó, chế biến, chế tạo, ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp, tăng 12,9%; điện tăng 10,6%; cung cấp nước tăng 9,3%; khai khoáng tăng 8%.
Phân tích sâu hơn, tăng trưởng sản xuất công nghiệp diễn ra ở tất cả các ngành công nghiệp cấp II, không phụ thuộc cục bộ vào khu vực FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài).
Ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính đạt mức tăng 15,2% đóng vai trò động lực công nghệ. Bên cạnh đó, nhờ hiệu ứng lan tỏa từ việc đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư công cũng như nhiều dự án đầu tư tư lớn, các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu và cơ khí trong nước cũng đạt tốc độ tăng trưởng cao: Sản xuất kim loại tăng 25,5%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (xi-măng, bê-tông…) tăng 12,2%; Sản xuất xe có động cơ tăng 15,3%.
Bên cạnh sự gia tăng sản xuất của các ngành công nghiệp chế tạo, các ngành công nghiệp chế biến phục vụ chủ yếu cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng tăng cao: sản xuất đồ uống tăng 17,4%; sản xuất và chế biến thực phẩm 12,5%…
Cùng với sự tăng tốc về sản lượng, chất lượng tăng trưởng còn phản ánh qua sự chuyển dịch cơ cấu sản phẩm hướng tới mở rộng năng lực sản xuất dài hạn.
Phân theo mục đích sử dụng sản phẩm công nghiệp, nhóm sản xuất sản phẩm công nghiệp là tư liệu sản xuất duy trì mức tăng cao 15,4% (vượt xa tốc độ tăng 11,5% của nhóm sản xuất sản phẩm công nghiệp là các mặt hàng tiêu dùng dân cư). Điều này minh chứng dòng vốn đầu tư toàn xã hội và vốn FDI thế hệ mới đang thẩm thấu sâu vào việc mở rộng năng lực sản xuất, chứ không chỉ đơn thuần phục vụ chu kỳ tiêu dùng ngắn hạn.
Bà Phí Thị Hương Nga cho biết thêm, bên cạnh các yếu tố tích cực như trên, vẫn có xu hướng phân hóa trong các ngành sản xuất. Các ngành công nghệ cao (điện tử) và công nghiệp sản xuất vật liệu phục vụ các hoạt động đầu tư xây dựng hấp thụ tốt dòng vốn và bứt tốc nhanh, trong khi các ngành gia công truyền thống thâm dụng lao động như dệt may (chỉ tăng 7,8%), da giày (tăng 3,4%) phục hồi chậm hơn. Nguyên nhân chủ yếu do sức ép từ cước vận tải biển neo cao và các rào cản thương mại mới làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp ngành dệt may da giày.
Cục Thống kê cũng chỉ ra, 9 tháng năm 2026, IIP tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 9% của cùng kỳ năm 2025 và là mức tăng cao nhất trong 9 tháng kể từ năm 2019. Trong giai đoạn 2019 - 2026, IIP 9 tháng lần lượt tăng 9,6%; 2,5%; 3,9%; 9,3%; 0,2%; 8,4%; 9% và 12,3%.
Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò chủ đạo khi tăng 12,9%, đóng góp 10 điểm phần trăm vào mức tăng chung của IIP. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; khai khoáng tăng 8%, đóng góp 1,3 điểm phần trăm; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,3%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Đà tăng được ghi nhận ở nhiều ngành công nghiệp trọng điểm. Sản xuất kim loại tăng 25,5%; sản xuất đồ uống tăng 17,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 15,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 15,2%.
Các ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác và chế biến thực phẩm cùng tăng 12,5%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,4%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 12,3%. Ngành dệt tăng 10,2%, sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 10%.
Đà tăng của sản xuất công nghiệp cũng được phản ánh qua sản lượng một số sản phẩm chủ lực. Trong 9 tháng, sản lượng máy tính bảng tăng 36,5%; xe máy tăng 28,1%; máy tính xách tay tăng 26,2%; ô tô tăng 24,8%; thép cán tăng 22,4%.
Thủy hải sản chế biến tăng 21,9%; đường kính tăng 18,8%; thép thanh, thép góc tăng 17,1%; bia tăng 14,7%; sắt, thép thô tăng 13,3% và thức ăn cho thủy sản tăng 12%.
Xét theo địa phương, IIP 9 tháng năm 2026 tăng ở cả 34 địa phương, nhưng mức tăng có sự phân hóa khá rõ. Nhóm có tốc độ tăng cao tập trung ở các địa phương có quy mô công nghiệp lớn và sự đóng góp đáng kể của công nghiệp chế biến, chế tạo.
Hà Tĩnh dẫn đầu với IIP tăng khoảng 40,2% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Ninh Bình tăng 25,0%, Thái Nguyên tăng 23,2%, Phú Thọ và Nghệ An cùng tăng 21,5%, Bắc Ninh tăng 20,2% và Quảng Ninh tăng 18,6%.
Trong khi đó, Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có tốc độ tăng thấp hơn mức chung cả nước. Cụ thể, IIP 9 tháng của TP Hồ Chí Minh tăng 10,9% và Hà Nội tăng 9%, trong bối cảnh IIP toàn quốc tăng 12,3%.
