Cải cách tạo chuyển biến từ năng lực thực thi

Thảo luận tại Diễn đàn Kinh tế thường niên 2026 (VNEF 2026), các diễn giả cho rằng, trong giai đoạn tăng trưởng mới, việc ban hành chính sách cần đi cùng năng lực thực thi, hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng chuyển các mục tiêu cải cách thành kết quả cụ thể...

Các diễn giả trao đổi tại Phiên 1 Diễn đàn Kinh tế thường niên 2026. Ảnh: Việt Dũng.

Các diễn giả trao đổi tại Phiên 1 Diễn đàn Kinh tế thường niên 2026. Ảnh: Việt Dũng.

Tại phiên thảo luận 1, Diễn đàn VNEF 2026, các đại biểu từ Ngân hàng Thế giới, chính quyền địa phương, giới chuyên gia và đại diện VCCI đề cập những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện cải cách và thúc đẩy tăng trưởng. Từ thể chế, điều hành địa phương đến hiệu quả sử dụng vốn và môi trường kinh doanh, các ý kiến tập trung vào yêu cầu thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và kết quả thực tế.

KHOẢNG CÁCH GIỮA CHÍNH SÁCH VÀ THỰC THI

Bà Temina Khan, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, cho rằng trong quá trình cải cách, cần chú ý đến khoảng cách giữa các quy định chính thức và cách thức hệ thống thực sự vận hành. Luật, quy định, hợp đồng và cơ cấu thị trường chỉ là một phần của hệ thống; lòng tin, quan hệ làm việc, thói quen và văn hóa hành chính cũng tác động đến kết quả thực hiện chính sách.

Theo bà, việc thay đổi cơ cấu tổ chức hoặc sáp nhập các cơ quan hành chính không tự động làm thay đổi cách vận hành. Những thay đổi này cần đi kèm với việc xác định rõ quyền quyết định, thống nhất quy trình, tích hợp dữ liệu, thiết lập cơ chế khuyến khích phù hợp và tổ chức bộ máy theo hướng tập trung vào kết quả.

Năng lực thực thi cũng cần được xem là một cấu phần của cải cách. Luật mới, phân cấp hay thay đổi cơ cấu tổ chức không tự động tạo ra kết quả nếu thiếu nhân sự có năng lực, nguồn lực và cơ chế phối hợp phù hợp.

Bà Temina Khan chia năng lực thực thi thành ba nhóm có quan hệ với nhau, gồm con người có năng lực, tổ chức với nhiệm vụ và nguồn lực rõ ràng, cùng hệ thống công nghệ, dữ liệu và phản hồi đáng tin cậy.

Đối với chính quyền địa phương, bà cho rằng khi trách nhiệm được phân cấp, địa phương cần đồng thời có năng lực và nguồn lực để thực hiện, cùng với cơ chế trách nhiệm giải trình rõ ràng. Với doanh nghiệp, tính dự báo của quy định và môi trường cạnh tranh công bằng có thể tạo thêm động lực đầu tư công nghệ và nâng năng suất. Ngược lại, nếu doanh nghiệp phải dành nhiều nguồn lực cho quan hệ và thương lượng, nguồn lực dành cho đổi mới có thể bị thu hẹp.

Từ đó, bà Temina Khan đề cập yêu cầu hình thành các vòng phản hồi chính sách, trong đó cơ quan quản lý thường xuyên tiếp nhận tín hiệu từ thị trường, thử nghiệm, đánh giá và điều chỉnh chính sách dựa trên kết quả thực tế.

Bà Temina Khan, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế thường niên 2026. Ảnh: Việt Dũng.

Bà Temina Khan, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế thường niên 2026. Ảnh: Việt Dũng.

Ở cấp địa phương, câu chuyện thực thi được thể hiện qua cách tổ chức nguồn lực, xử lý vướng mắc và cụ thể hóa các mục tiêu tăng trưởng. Bà Nguyễn Thị Hoàng, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đồng Nai, cho biết GRDP quý 3/2026 tăng 10,21%, 9 tháng tăng 10,01%.

Đồng Nai cho biết đã gắn nhiệm vụ với sản phẩm đầu ra, tiến độ và trách nhiệm người đứng đầu; đồng thời thành lập Ban chỉ đạo tăng trưởng và thu ngân sách do Chủ tịch UBND thành phố làm Trưởng ban, xây dựng kịch bản tăng trưởng chi tiết theo quý và theo từng khu vực, ngành. Địa phương cũng phân loại các dự án đang gặp vướng mắc theo nguyên nhân, thẩm quyền và phương án xử lý để tập trung tháo gỡ những dự án đủ điều kiện triển khai.

Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Đệ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, cho biết GRDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,75%, quý 3 tăng 10,11%. Địa phương đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 11-12%/năm trong giai đoạn 2026-2030.

Nghệ An tập trung tổ chức lại không gian phát triển thông qua các cực tăng trưởng, vùng phát triển và hành lang kinh tế trong quy hoạch, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu cụ thể hóa quy hoạch thành các dự án ưu tiên và bố trí nguồn lực thực hiện. Địa phương ước tính cần huy động khoảng 1,15 triệu tỷ đồng trong thời gian tới và cho biết đang chuyển trọng tâm thu hút đầu tư từ chiều rộng sang chiều sâu, hướng tới các nhà đầu tư có tiềm lực và phù hợp với định hướng phát triển.

HIỆU QUẢ VỐN VÀ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG KINH DOANH

Từ góc độ sử dụng nguồn lực, ông Lê Duy Bình, Giám đốc điều hành Economica Việt Nam, cho biết tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn tới dự kiến khoảng 38 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 40% GDP, trong khi trước đây tỷ lệ này khoảng 31% GDP. Theo ông, khi quy mô vốn cần huy động tăng lên, yêu cầu nâng hiệu quả sử dụng vốn cũng trở nên rõ hơn.

Ông Bình cho biết hệ số ICOR của Việt Nam trong một số giai đoạn ở mức cao, trong thời kỳ Covid có thời điểm lên 14-15. Điều này cho thấy hiệu quả sử dụng vốn còn rất thấp, phải cần 14-15 đồng mới tạo ra được 1 đồng tăng trưởng GDP. 

Ông cũng đưa ra số liệu về vốn đầu tư tại các địa phương. Theo ông, năm 2025, Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đồng Nai và Ninh Bình chiếm khoảng 45% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vốn giữa các địa phương có sự khác biệt, qua đó đặt ra yêu cầu xem xét chất lượng điều hành và môi trường kinh doanh cùng với quy mô vốn đầu tư.

Quanh cảnh phiên thảo luận 1, Diễn đàn Kinh tế thường niên 2026. Ảnh: Việt Dũng.

Quanh cảnh phiên thảo luận 1, Diễn đàn Kinh tế thường niên 2026. Ảnh: Việt Dũng.

Trong khi đó, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký VCCI, tập trung vào tốc độ thay đổi của hệ thống pháp luật và yêu cầu nâng chất lượng thực thi tại địa phương.

Ông Tuấn cho biết, năm 2025 có 89 luật được ban hành, trong khi quy trình lập pháp được rút ngắn đáng kể. Theo ông, sự thay đổi nhanh của hệ thống pháp luật cũng đặt ra yêu cầu đối với năng lực tổ chức thực hiện ở các cấp.

Ông cho biết các chỉ số về chi phí tuân thủ và thủ tục hành chính có những cải thiện, trong đó thủ tục trực tuyến góp phần thay đổi trải nghiệm của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thủ tục hành chính vẫn là một điểm nghẽn tại một số địa phương, trong đó có tình trạng triển khai chính sách chậm.

Một vấn đề khác được ông đề cập là tiến độ ban hành văn bản hướng dẫn sau khi luật có hiệu lực. Theo số liệu ông dẫn tại diễn đàn, đã có thời điểm tỷ lệ nghị định được ban hành sau khi luật có hiệu lực lên tới 82%.

Từ góc độ thực thi pháp luật, ông Phan Đức Hiếu, đại biểu Quốc hội, cho rằng chính quyền địa phương cần chuyển từ thụ động giải quyết thủ tục sang chủ động quản trị. Theo ông, với những vấn đề mà cơ quan quản lý đã có dữ liệu, địa phương có thể chủ động rà soát và tiếp cận doanh nghiệp để xử lý trước khi vấn đề phát sinh thành vướng mắc.

Ông cũng lưu ý cần quan tâm đến những vấn đề nhỏ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Một thủ tục tưởng như không lớn, chẳng hạn thủ tục liên quan đến một đơn hàng nhập nguyên vật liệu, vẫn có thể làm đình trệ cả dây chuyền sản xuất nếu không được xử lý kịp thời.

Tuấn Khang

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/cai-cach-tao-chuyen-bien-tu-nang-luc-thuc-thi.htm