Cần bảo đảm hài hòa giữa nộp và hoàn thuế

Doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế đúng, đủ và đúng hạn; cơ quan quản lý thuế cũng có trách nhiệm giải quyết hoàn thuế đúng căn cứ, minh bạch và kịp thời. Kiểm tra, xác minh chặt chẽ là cần thiết để bảo vệ ngân sách, nhưng việc “chờ xác minh” cần có căn cứ, được thông tin rõ ràng và nằm trong thời hạn pháp luật quy định.

Thuế là nguồn lực của Nhà nước, còn tuân thủ thuế là nghĩa vụ của doanh nghiệp. Vì vậy, kiểm soát hồ sơ hoàn thuế, nhận diện hóa đơn bất hợp pháp, giao dịch khống hay hành vi chiếm đoạt tiền hoàn thuế là cần thiết. Sự dễ dãi trong hoàn thuế không chỉ có thể gây thất thoát ngân sách mà còn tạo bất bình đẳng với những doanh nghiệp chấp hành nghiêm quy định.

Ở chiều ngược lại, có trường hợp doanh nghiệp đã nộp hồ sơ, giải trình và cung cấp chứng từ nhưng sau nhiều tháng vẫn chưa nhận được quyết định hoàn thuế hoặc thông báo không hoàn. Khi hỏi tiến độ, câu trả lời chỉ là “đang chờ xác minh”, “đang đối chiếu nhà cung cấp” hoặc “chưa có kết quả từ đơn vị phối hợp”.

Điều đáng nói là doanh nghiệp không biết hồ sơ còn vướng ở đâu, nội dung nào cần xác minh và đến bao giờ mới được giải quyết. Đây là vấn đề cần được nhìn nhận từ yêu cầu bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người nộp thuế.

Thời hạn hoàn thuế phải được tôn trọng

Luật Quản lý thuế năm 2019 quy định rõ trình tự và thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế. Theo khoản 3 Điều 72, trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, cơ quan quản lý thuế phải phân loại và thông báo cho người nộp thuế về việc chấp nhận hồ sơ, thời hạn giải quyết hoặc thông báo bằng văn bản nếu hồ sơ chưa đầy đủ.

Bảo đảm sự hài hòa giữa nộp và hoàn thuế sẽ góp phần củng cố niềm tin và khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ pháp luật thuế (Ảnh minh họa).

Bảo đảm sự hài hòa giữa nộp và hoàn thuế sẽ góp phần củng cố niềm tin và khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ pháp luật thuế (Ảnh minh họa).

Điều 75 quy định thời hạn giải quyết chậm nhất 6 ngày làm việc đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước và chậm nhất 40 ngày đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế. Trong thời hạn này, cơ quan có thẩm quyền phải ban hành quyết định hoàn thuế, thông báo chuyển sang kiểm tra hoặc thông báo không hoàn nếu hồ sơ không đủ điều kiện.

Pháp luật cũng cho phép cơ quan thuế yêu cầu người nộp thuế giải trình, bổ sung khi thông tin trong hồ sơ có khác biệt với thông tin quản lý. Thời gian doanh nghiệp thực hiện yêu cầu này không tính vào thời hạn giải quyết. Tuy nhiên, yêu cầu giải trình, bổ sung phải được thông báo bằng văn bản.

Như vậy, việc xác minh là một phần của quy trình quản lý thuế, nhưng phải được thực hiện theo trình tự và trong khuôn khổ thời hạn pháp luật quy định. Một thông báo miệng rằng hồ sơ “đang xác minh” không thể thay thế thủ tục bằng văn bản.

Đáng chú ý, nếu quá thời hạn do lỗi của cơ quan quản lý thuế, ngoài số tiền phải hoàn, cơ quan quản lý thuế phải trả lãi 0,03% mỗi ngày tính trên số tiền và số ngày chậm hoàn. Thời hạn vì vậy không chỉ là yêu cầu về nghiệp vụ mà còn gắn với trách nhiệm pháp lý của cơ quan giải quyết.

Doanh nghiệp chậm nộp thuế phải chịu các hậu quả theo quy định. Tương tự, cơ quan quản lý cũng phải giải quyết hồ sơ hoàn thuế đúng căn cứ, đúng thẩm quyền và đúng thời hạn. Quyền và nghĩa vụ của hai bên cần được đặt trong cùng một yêu cầu về tính minh bạch và trách nhiệm.

Xác minh phải có căn cứ và điểm dừng

Kiểm tra, xác minh nhằm bảo vệ ngân sách nhà nước là cần thiết. Tuy nhiên, việc xác minh cần xác định rõ nội dung, lý do, cơ quan phối hợp và thời hạn thực hiện. Nếu thiếu những thông tin này, “chờ xác minh” có thể khiến toàn bộ chi phí của sự chậm trễ chuyển sang doanh nghiệp.

Cũng cần tránh việc mặc nhiên coi doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm chỉ vì một nhà cung cấp ở khâu trước ngừng hoạt động, không phản hồi hoặc thuộc diện rủi ro. Nếu doanh nghiệp chứng minh được giao dịch có thật, hàng hóa, dịch vụ có thật, hóa đơn và chứng từ thanh toán đáp ứng quy định, việc xem xét trách nhiệm cần được thực hiện trên cơ sở cụ thể đối với từng chủ thể.

Quản lý rủi ro cần hướng nguồn lực kiểm tra vào những giao dịch có dấu hiệu bất thường, thay vì biến mọi hồ sơ hoàn thuế thành hồ sơ nghi ngờ. Với những phần hồ sơ đã đủ căn cứ, có thể xem xét hoàn trước, tiếp tục xác minh phần còn vướng. Cách làm này vừa bảo đảm kiểm soát ngân sách, vừa hạn chế ảnh hưởng đến dòng tiền hợp pháp của doanh nghiệp.

Hoạt động xác minh cũng cần được văn bản hóa và cập nhật trên hệ thống điện tử. Doanh nghiệp cần biết hồ sơ đang ở khâu nào, nội dung nào cần bổ sung hoặc xác minh, đơn vị nào chịu trách nhiệm và thời hạn giải quyết còn lại.

Khi cơ quan phối hợp chưa có kết quả, cần có cơ chế xử lý phù hợp thay vì để hồ sơ kéo dài không xác định. Trường hợp quá hạn do lỗi của cơ quan quản lý thuế, trách nhiệm theo quy định pháp luật cần được thực hiện đầy đủ.

Hoàn thuế phải được kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ ngân sách, nhưng chặt chẽ không đồng nghĩa với kéo dài. Xác minh phải có căn cứ, có thời hạn và có trách nhiệm rõ ràng.

Một môi trường thuế minh bạch không chỉ được thể hiện ở việc doanh nghiệp chấp hành nghĩa vụ nộp thuế, mà còn ở việc cơ quan quản lý thực hiện đầy đủ trách nhiệm hoàn trả khoản thuế mà doanh nghiệp đủ điều kiện được nhận. Việc bảo đảm sự hài hòa này sẽ góp phần củng cố niềm tin và khuyến khích doanh nghiệp tuân thủ pháp luật thuế.

Luật sư Phan Khắc Nghiêm - Công ty Luật TNHH NPK Quốc tế

Nguồn Bảo Vệ Công Lý: https://baove.congly.vn/can-bao-dam-hai-hoa-giua-nop-va-hoan-thue-537233.html