Cán cân thương mại thâm hụt 947 triệu USD trong nửa đầu tháng 2
Nửa đầu tháng 2/2026, cán cân thương mại nhập siêu hơn 947 triệu USD. Diễn biến này phản ánh nhu cầu nhập khẩu nhiên liệu và nguyên vật liệu tăng mạnh, trong khi cơ cấu xuất khẩu tiếp tục phụ thuộc lớn vào khu vực doanh nghiệp FDI và nhóm hàng công nghệ cao…

Cán cân thương mại tiếp tục thâm hụt gần 950 triệu USD
Theo báo cáo sơ bộ từ Cục Hải quan, trong nửa đầu tháng 2/2026 (từ ngày 1 – 15/2), tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam đạt khoảng 41,67 tỷ USD, tăng 5,92% so với kỳ 1 tháng 1/2026 và tăng 31,77% so với cùng kỳ năm ngoái.
Lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 15/2/2026, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 130,18 tỷ USD, tăng 36,93% so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy đà phục hồi thương mại tiếp tục được duy trì ngay từ những tuần đầu năm.
Ở chiều xuất khẩu, trong 15 ngày đầu tháng 2, tổng kim ngạch đạt 20,36 tỷ USD, tăng 12,79% so với nửa đầu tháng 1/2026. Động lực chính vẫn đến từ nhóm hàng công nghiệp chế biến, chế tạo, đặc biệt là các sản phẩm công nghệ cao.
Các mặt hàng truyền thống cũng ghi nhận sự cải thiện tích cực, góp phần đa dạng hóa cơ cấu xuất khẩu. Theo đó, trị giá xuất khấu hàngdệt may đạt 1,8 tỷUSD, tăng442,76 triệu USD, tương đương 32,51%.
(Báo cáo Hải quan)
Cụ thể, so với 15 ngày đầu tháng 1/2026, nhóm điện thoại các loại và linh kiện tăng cao nhất, tăng thêm 668,36 triệu USD (tương đương 32,71%). Đây tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, phản ánh vai trò trung tâm của ngành điện tử trong cơ cấu thương mại Việt Nam.
Theo sau là nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác tăng 346,59 triệu USD (tương đương 16,19%). Cuối cùng là nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 186,43 triệu USD (tương đương 4,41%).
Bên cạnh nhóm công nghệ cao, các mặt hàng truyền thống cũng ghi nhận sự cải thiện tích cực, góp phần đa dạng hóa cơ cấu xuất khẩu. Theo đó, trị giá xuất khấu hàng dệt may đạt 1,8 tỷ USD, tăng 442,76 triệu USD (tương đương 32,51%) cho thấy tín hiệu phục hồi đơn hàng tại một số thị trường lớn.
Nổi bật, nhóm hàng hóa liên quan đến nhiên vật liệu như than tăng hơn 10 lần so với nửa đầu tháng 1/2026, đạt trị giá 8,74 triệu USD. Đây là nhóm hàng ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong nửa đầu tháng 2/2026. Ngoài ra, nhóm phân bón cũng tăng tới 167,21% so với nửa đầu tháng 1/2026.

Kim ngạch xuất khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 1 tháng 2/2026 và kỳ 1 tháng 1/2026. Nguồn: Cục Hải quan.
Xét riêng khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trong nửa đầu tháng 2/2026, tổng trị giá xuất khẩu đạt 15,8 tỷ USD, tăng hơn 1,76 tỷ USD so với nửa đầu tháng 1. Tỷ trọng khu vực này chiếm gần 78% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Thực tế cấu trúc hàng hóa cho thấy, phần lớn kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI vẫn tập trung vào ba nhóm hàng chủ lực gồm: điện thoại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng. Đây đều là những ngành có hàm lượng công nghệ cao, gắn chặt với chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia.
Thực tế này tạo ra động lực tăng trưởng xuất khẩu lớn và ổn định. Tuy nhiên, giá trị gia tăng nội địa trong nhiều sản phẩm xuất khẩu công nghệ cao vẫn còn hạn chế. Phần lớn linh kiện, vi mạch, vật tư đầu vào quan trọng được nhập khẩu từ các công ty mẹ hoặc từ các trung tâm sản xuất trong khu vực.
Ở chiều ngược lại, trong 15 ngày đầu tháng 2/2026, tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 21,31 tỷ USD, gần như tương đương so với kỳ 1 tháng 1/2026. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2025, trị giá nhập khẩu tăng hơn 40% nhờ nhu cầu nguyên vật liệu, nhiên liệu và hàng hóa trung gian cho sản xuất vẫn ở mức cao.
Đáng chú ý, nhóm nhiên liệu khí đốt ghi nhận mức tăng trưởng đột biến. Theo đó, nhập khẩu xăng dầu tăng tới 90,6% so với kỳ 1 tháng 1/2026, đạt 519,74 triệu USD. Bên cạnh đó, khí đốt hóa lỏng tăng tới hơn 121%, đạt 145,69 triệu USD. Điều này phản ánh nhu cầu năng lượng phục vụ sản xuất và tiêu dùng gia tăng, đồng thời có thể chịu tác động từ biến động giá năng lượng trên thị trường thế giới.

Kim ngạch nhập khẩu của một số nhóm hàng trong kỳ 1 tháng 2/2026 và kỳ 1 tháng 1/2026. Nguồn: Cục Hải quan.
Trong khi đó, nhóm hàng công nghệ cao có sự phân hóa rõ rệt. Nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng hơn 144 triệu USD (tương đương 1,81%), đạt 8,1 tỷ USD. Tuy nhiên, hai nhóm hàng vốn có tỷ trọng lớn khác là máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng và điện thoại các loại cùng linh kiện lại giảm lần lượt 2,96% và 7,82% so với kỳ 1 tháng 1/2026.
Sự suy giảm ở các nhóm hàng này đã kìm hãm đà tăng chung của nhập khẩu trong kỳ. Điều này phần nào phản ánh nhịp độ nhập khẩu linh kiện, máy móc và nguyên vật liệu đầu vào của khu vực sản xuất, đặc biệt là khối FDI có dấu hiệu chững lại sau giai đoạn nhập khẩu mạnh trước đó.
Khu vực FDI dù vẫn giữ vai trò chi phối trong cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam với hơn 72% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước nhưng chỉ tăng nhẹ 0,26%, đạt 15,35 tỷ USD. Sự phụ thuộc lớn vào khu vực FDI cũng đồng nghĩa với việc nền kinh tế Việt Nam chịu tác động mạnh từ các quyết định chiến lược của tập đoàn mẹ ở nước ngoài.
Khi thị trường thế giới biến động, nhu cầu tiêu dùng suy giảm hoặc chuỗi cung ứng toàn cầu gặp gián đoạn, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam có thể bị ảnh hưởng nhanh chóng.
Trong nửa đầu tháng 2/2026, do tổng trị giá nhập khẩu cao hơn trị giá xuất khẩu đã kéo cán cân thương mại tạm thời thâm hụt 947,92 triệu USD. Tính chung từ đầu năm 2026, do xuất siêu gần 1,8 tỷ USD trong tháng đầu năm nên cán cân thương mại tiếp tục duy trì trạng thái thâm hụt cao, ở mức 2,9 tỷ USD.











