Cần chiến lược quản lý hiệu quả tài nguyên nước
Sau các đợt thiên tai, lũ lụt lịch sử xảy ra gần đây, bài toán tài nguyên nước tại Đà Nẵng không còn dừng lại ở việc chống ngập hay khắc phục hậu quả trước mắt. Thực tế đặt ra yêu cầu cấp thiết hơn: phải nhìn lại toàn diện cách quản lý, khai thác và bảo vệ nguồn nước.

Dù có nguồn nước dồi dào nhưng áp lực cấp nước sinh hoạt trên địa bàn Đà Nẵng vào mùa hạn rất lớn. Ảnh: HOÀNG LIÊN
Áp lực an ninh nguồn nước
Theo thống kê, đến cuối năm 2025, thành phố Đà Nẵng đã xây dựng được 1.348 công trình thủy lợi, gồm 92 hồ chứa, 917 đập dâng, 269 trạm bơm và 5 công trình khác. Hệ thống này đảm nhận tưới cho khoảng 82.281,3ha đất canh tác, đạt khoảng 57% năng lực thiết kế và bảo đảm nước cho gần 48% diện tích cần tưới.
Ngoài ra, trên địa bàn còn có 19 công trình thủy điện thượng nguồn, hơn 248km đê, kè và 10 khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão. Với hệ thống này, Đà Nẵng được xem là địa phương có nguồn tài nguyên nước khá dồi dào, với các lưu vực sông lớn như Vu Gia - Thu Bồn, Cu Đê, Tam Kỳ, Trường Giang… Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy một nghịch lý rõ rệt: thành phố vẫn đối mặt với nguy cơ thiếu nước và gia tăng rủi ro ngập lụt.
Theo PGS-TS. Hoàng Ngọc Tuấn, Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, nguyên nhân nằm ở sự phân bố không đều của dòng chảy theo mùa. Lượng nước tập trung chủ yếu vào mùa lũ. Tình trạng “thừa nước mùa mưa, thiếu nước mùa khô” ngày càng nghiêm trọng.
Dự báo của các chuyên gia, đến năm 2050, xu hướng này sẽ nghiêm trọng hơn, dòng chảy mùa lũ có thể tăng khoảng 4,5%, trong khi mùa kiệt giảm khoảng 1%. Đỉnh lũ tăng 5-6% cùng với mực nước biển dâng từ 22-25cm sẽ làm gia tăng nguy cơ ngập lụt và xâm nhập mặn.
Không chỉ chịu tác động của biến đổi khí hậu, quá trình đô thị hóa nhanh cũng tạo áp lực lớn lên tài nguyên nước. Hiện thành phố có 27 hồ với tổng dung tích khoảng 3,3 triệu mét khối, nhưng phần lớn bị ô nhiễm do thiếu hệ thống thu gom và xử lý nước thải đồng bộ.
Các chuyên gia cho rằng, vấn đề không nằm ở việc thiếu tài nguyên nước mà ở cách quản lý và sử dụng chưa hiệu quả. Không gian sông ngòi bị thu hẹp, việc khai thác thiếu kiểm soát, cùng với sự chồng chéo trong quản lý giữa các ngành đã khiến nguồn nước đứng trước nhiều rủi ro.

Đập ngăn mặn trên sông thuộc phường Điện Bàn Bắc. Ảnh: HOÀNG LIÊN
Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Môi trường, hiện thành phố có 558 công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, nhưng chỉ 336 công trình hoạt động ổn định; số còn lại kém hiệu quả hoặc đã ngừng hoạt động. Nguồn nước sạch vì vậy mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu, đặc biệt tại khu vực nông thôn, nơi người dân vẫn phụ thuộc vào nước sông, suối và giếng khoan.
Nguồn cấp nước của thành phố hiện phụ thuộc lớn vào hệ thống sông Vu Gia và khu vực Cầu Đỏ - những nơi đang chịu tác động rõ rệt của xâm nhập mặn và suy giảm dòng chảy mùa kiệt. Trong khi đó, việc khai thác nước ngầm gia tăng khiến trữ lượng suy giảm, tiềm ẩn nguy cơ mất cân bằng lâu dài.
Theo đại diện Công ty CP Cấp thoát nước Đà Nẵng, nguồn nước mặt đang chịu áp lực lớn từ biến đổi khí hậu và xung đột lợi ích khai thác giữa thượng nguồn và hạ nguồn. Việc phụ thuộc chủ yếu vào một số nguồn cấp khiến hệ thống thiếu linh hoạt.
Do đó, cần nâng cấp các công trình cấp nước, đồng thời xây dựng các phương án dự phòng. Việc hiện đại hóa công nghệ quản lý và hệ thống quan trắc chất lượng nước là giải pháp cấp thiết. Đồng thời cần kiểm soát chặt chẽ chất lượng nguồn nước, đặc biệt tại các khu công nghiệp; áp dụng chế tài đủ mạnh đối với hành vi gây ô nhiễm nguồn nước.
Quản lý hiệu quả tài nguyên nước
Theo các chuyên gia, yêu cầu đặt ra không chỉ là đầu tư thêm công trình hay nâng cao năng lực ứng phó, mà quan trọng hơn là xác lập rõ những giới hạn trong khai thác và bảo vệ tài nguyên nước. “Lằn ranh đỏ” ở đây được hiểu là không đánh đổi không gian sông ngòi, hành lang thoát lũ và nguồn nước tự nhiên cho các mục tiêu phát triển ngắn hạn, đảm bảo an ninh nguồn nước trong dài hạn.

Trạm bơm chống hạn trên sông Thu Bồn, xã Nông Sơn. Ảnh: HOÀNG LIÊN
Để hiện thực hóa mục tiêu này, Đà Nẵng đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, rà soát, điều chỉnh quy hoạch tài nguyên nước giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, gắn với thích ứng biến đổi khí hậu.
Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030, người dân ở đô thị đều được cấp nước sạch và 80% người dân nông thôn được sử dụng nước đạt chuẩn.
Hệ thống thủy lợi được đầu tư nâng cấp, xây dựng thêm hồ chứa nhằm tăng khả năng tích trữ và điều tiết nước, đặc biệt trên lưu vực Vu Gia - Thu Bồn.
Công tác kiểm soát xâm nhập mặn, hiện đại hóa hệ thống quan trắc và cảnh báo thiên tai được chú trọng. Thành phố tăng cường phối hợp liên vùng trong quản lý lưu vực sông, đa dạng hóa nguồn cấp nước và thúc đẩy sử dụng nước tiết kiệm.
Theo PGS-TS. Tô Thúy Nga (Đại học Đà Nẵng), quy hoạch tài nguyên nước hiện cơ bản phù hợp với hệ thống quốc gia, nhưng cần tiếp tục hoàn thiện.
Việc phân bổ tài nguyên nước và rủi ro thiên tai có mối liên hệ chặt chẽ với vận hành các công trình trên hệ thống sông. Từ thực tế thiên tai năm 2025, cần nhìn nhận lại hiệu quả của công tác quy hoạch và khả năng ứng phó.
Các giải pháp phải làm rõ mối quan hệ giữa tài nguyên nước và rủi ro thiên tai; đánh giá toàn diện hiện trạng công trình, đặc biệt là những công trình xuống cấp hoặc thiếu đồng bộ để có phương án khắc phục.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/can-chien-luoc-quan-ly-hieu-qua-tai-nguyen-nuoc-3336780.html











