Cần cơ chế quản lý mới để phát huy năng lực tổng thầu, nâng cao hiệu quả dự án

Với việc nhiều dự án trọng điểm được triển khai và những đòi hỏi ngày càng cao về tiến độ, chất lượng, hiệu quả dự án, mô hình tổng thầu đóng vai trò quan trọng giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý dự án. Tuy nhiên, để mô hình này phát huy hiệu quả, phương thức quản lý dự án cũng cần thay đổi tương ứng.

Cần cơ chế quản lý mới để phát huy năng lực tổng thầu, nâng cao hiệu quả dự án. Ảnh ST

Cần cơ chế quản lý mới để phát huy năng lực tổng thầu, nâng cao hiệu quả dự án. Ảnh ST

Theo đó, Nhà nước không quản ít đi mà cần quản hiệu quả hơn, tập trung vào tiêu chuẩn, hợp đồng và các công cụ kiểm soát như công tác thẩm tra, thẩm định; lấy chất lượng, tiến độ, chi phí, an toàn, hiệu quả đầu tư và trách nhiệm cuối cùng làm thước đo.

Từ quản lý sự vụ sang quản lý bằng hiệu quả

Khi phương thức tổ chức thực hiện dự án thay đổi, cách thức quản lý cũng cần thay đổi tương ứng. Với mô hình tổng thầu quản trị, vấn đề đặt ra là thiết lập được cơ chế đủ khả năng kiểm soát hiệu quả của toàn dự án.

Đại diện Cục Đường bộ Việt Nam cho rằng, cơ quan quản lý cần “chuyển dịch dứt khoát từ tư duy ‘quản lý sự vụ, làm thay doanh nghiệp’ sang phương thức quản trị bằng thể chế”. Theo đó, Nhà nước thiết lập hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, sử dụng hợp đồng làm công cụ ràng buộc, lấy tiến độ, chất lượng, giá thành làm mục tiêu và sử dụng chế tài để kiểm soát việc thực hiện các cam kết.

Theo Hiệp hội Các nhà thầu xây dựng Việt Nam, Nhà thầu quản lý không trực tiếp thực hiện toàn bộ công việc thi công mà tập trung vào quản trị, điều phối, kiểm soát chất lượng, tiến độ, chi phí. Các công việc chuyên môn cụ thể có thể được tổ chức thông qua hệ thống nhà thầu phụ, nhà thầu phụ đặc biệt, nhưng nhà thầu chính vẫn chịu trách nhiệm toàn diện trước chủ đầu tư về việc thực hiện hợp đồng.

Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu cao hơn nhiều so với năng lực thi công một gói thầu riêng lẻ. Tổng thầu phải hiểu và kiểm soát được giải pháp kỹ thuật; tổ chức thiết kế và thi công; xây dựng kế hoạch tổng thể; quản lý đường găng tiến độ; huy động tài chính; tổ chức chuỗi cung ứng; điều phối các nhà thầu và quản trị những rủi ro có thể tác động đến toàn dự án.

Theo đại diện Cục Đường bộ Việt Nam, sự chuyển đổi này đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực của chủ đầu tư và Ban Quản lý dự án. Việc quản lý một dự án tích hợp quy mô lớn đòi hỏi khả năng thẩm định thiết kế tổng thể, đánh giá rủi ro tài chính, quản trị hợp đồng phức hợp; đồng thời cần các công cụ kiểm soát hiện đại như BIM, kiểm soát đường găng tiến độ.

“Như vậy, thay đổi nằm ở phương thức thực hiện quyền quản lý, chứ không phải giảm mức độ kiểm soát đối với dự án” - đại diện Cục Đường bộ Việt Nam cho biết. 

Cơ chế quản lý cần chuyển dần từ việc can thiệp sâu vào phương thức tổ chức nguồn lực của doanh nghiệp sang kiểm soát năng lực đầu vào, hiệu quả đầu ra và trách nhiệm cuối cùng. Khi đó, trọng tâm quản lý là các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng, tiến độ, chi phí, an toàn, tính minh bạch và hiệu quả đầu tư, thay vì theo sát doanh nghiệp bố trí từng nhân sự, thiết bị hay tổ chức từng công việc.

Phương thức giám sát cũng cần thay đổi tương ứng. Dữ liệu về tiến độ, chất lượng, chi phí và những nguy cơ ảnh hưởng đến đường găng cần được cập nhật để chủ đầu tư nhận diện sớm vấn đề và yêu cầu xử lý. Các công cụ như BIM, hệ thống quản lý tiến độ, dữ liệu số hay cơ chế cảnh báo vì vậy trở thành cơ sở để kiểm soát dự án theo những chỉ tiêu có thể đo lường.

Theo chuyên gia giao thông TS. Nguyễn Xuân Thủy, đối với các công trình lớn, yêu cầu về một đầu mối chịu trách nhiệm xuyên suốt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Một công trình lớn cần phải có tổng thầu đóng vai trò như tổng công trình sư đủ khả năng nhìn tổng thể dự án, kết nối các bên tham gia và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Đây là người phải chịu trách nhiệm toàn bộ công trình đó trước Nhà nước và nhân dân

 - TS. Nguyễn Xuân Thủy - 

Ở góc độ quản lý, khi trách nhiệm tổ chức thực hiện đã được xác lập rõ, chủ đầu tư có điều kiện tập trung kiểm soát các mục tiêu và hiệu quả cuối cùng của dự án. Có thể khái quát mối quan hệ này theo hướng: doanh nghiệp quản trị quá trình tổ chức thực hiện, Nhà nước quản lý bằng hiệu quả.

Hoàn thiện hành lang pháp lý về mô hình tổng thầu

Trong các dự án lớn, hợp đồng không nên chỉ được nhìn như căn cứ xác định phạm vi công việc, khối lượng và giá trị thanh toán, mà đây cần trở thành công cụ quản trị, xác lập rõ mục tiêu đầu ra, quyền và nghĩa vụ của từng chủ thể, các mốc kiểm soát, cơ chế cảnh báo, phân bổ rủi ro và trách nhiệm khi cam kết không được thực hiện.

Từ thực tiễn triển khai các dự án hạ tầng giao thông, ông Nguyễn Lê Bách - Tổng Giám đốc Tập đoàn Đèo Cả, cho rằng cần “chuyển mạnh từ tư duy quản lý thủ tục sang quản lý kết quả và phân bổ rủi ro hợp lý”.

Theo ông Bách, trong quá trình thực hiện hợp đồng cần phân định rõ đâu là rủi ro khách quan, đâu là lỗi chủ quan của các bên và đâu là hành vi vi phạm pháp luật. Cụ thể, việc xác định trách nhiệm cần được đặt trong mối quan hệ giữa nguyên nhân - nghĩa vụ - lỗi - thiệt hại - quan hệ nhân quả - phạm vi rủi ro đã được phân bổ trong hợp đồng. Cách tiếp cận này giúp xác định đúng bản chất vấn đề, tránh tình trạng một rủi ro khách quan bị nhìn nhận như lỗi chủ quan hoặc ngược lại.

Đối với những dự án kéo dài nhiều năm, đại diện doanh nghiệp này đề xuất cần có cơ chế rà soát và phân chia rủi ro định kỳ, thay vì chờ đến khi sự việc xảy ra mới xử lý. Riêng với hợp đồng EPC, rủi ro cần được phân định rõ ở từng khâu thiết kế - mua sắm - thi công. 

Cách tiếp cận này cũng có thể tham khảo từ kinh nghiệm quốc tế. Trong hệ thống hợp đồng NEC4, cơ chế cảnh báo sớm được thiết kế nhằm nhận diện những vấn đề có khả năng tác động đến tiến độ, chi phí hoặc chất lượng, từ đó các bên có cơ hội xử lý trước khi chúng phát triển thành điểm nghẽn.

Điểm đáng tham khảo từ những mô hình này, theo đại diện doanh nghiệp, đó là “cách sử dụng hợp đồng để phân định rõ ngay từ đầu: Ai quyết định? Ai thực hiện? Ai chịu rủi ro? Ai chịu trách nhiệm về kết quả?". 

Khi những vấn đề này được phân định rõ, hợp đồng trở thành công cụ để cả hai phía vận hành. Doanh nghiệp có không gian chủ động trong phạm vi trách nhiệm được giao; cơ quan quản lý có các mốc, tiêu chuẩn và dữ liệu để kiểm soát, cảnh báo và xử lý khi việc thực hiện đi chệch mục tiêu.

Từ góc độ cộng đồng nhà thầu, ông Nguyễn Quốc Hiệp - Chủ tịch Hiệp hội các Nhà thầu xây dựng Việt Nam đã đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định về nhà thầu quản lý trong pháp luật về đấu thầu, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho mô hình tổ chức thực hiện hợp đồng phù hợp với xu hướng chuyên môn hóa của ngành xây dựng.

Một công trình lớn cần phải có tổng thầu đóng vai trò như tổng công trình sư đủ khả năng nhìn tổng thể dự án, kết nối các bên tham gia và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Ảnh: Bích Liên

Một công trình lớn cần phải có tổng thầu đóng vai trò như tổng công trình sư đủ khả năng nhìn tổng thể dự án, kết nối các bên tham gia và chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng. Ảnh: Bích Liên

Từ phía cơ quan quản lý, ông Trần Hào Hùng - Cục trưởng Cục Quản lý đấu thầu (Bộ Tài chính), cho biết cơ quan này đang nghiên cứu cơ chế tổng thầu, tổ hợp nhà thầu và nhà thầu quản lý trong quá trình hoàn thiện các quy định.

Theo đại diện Cục Quản lý đấu thầu, cần tiếp tục làm rõ nội hàm, cơ chế vận hành, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổng thầu, tổ hợp nhà thầu, nhà thầu quản lý; đồng thời phân biệt với các hình thức đã được pháp luật quy định như liên danh nhà thầu, hợp đồng EPC. Đây là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hành lang pháp lý, tiến tới áp dụng theo lộ trình phù hợp. 

Trong quá trình đó, hiệu quả dự án phải trở thành thước đo của cả cơ chế quản lý lẫn năng lực tổ chức thực hiện. Một mô hình có phát huy tác dụng hay không cần được đánh giá bằng chất lượng công trình, tiến độ, chi phí, an toàn, hiệu quả đầu tư và khả năng xác định rõ trách nhiệm khi mục tiêu không đạt được.

Các chuyên gia cũng cho rằng, mục tiêu hướng tới là hình thành một thế hệ doanh nghiệp xây dựng Việt Nam đủ năng lực cạnh tranh quốc tế. Nhà nước tạo cơ chế, đặt ra tiêu chuẩn; doanh nghiệp tự đổi mới, đầu tư con người, công nghệ và chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình.

Theo đó, Nhà nước không quản ít đi mà quản hiệu quả hơn. Khi tiêu chuẩn, hợp đồng, công cụ kiểm soát và trách nhiệm được xác lập rõ, quyền chủ động của doanh nghiệp và quyền quản lý của Nhà nước cùng hướng tới hiệu quả cuối cùng của dự án. Đây là nền tảng để từng bước hình thành những tổng thầu quản trị chủ lực của Việt Nam, đủ khả năng đảm nhận các dự án hạ tầng ngày càng lớn và phức tạp.

N.LỘC

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/can-co-che-quan-ly-moi-de-phat-huy-nang-luc-tong-thau-nang-cao-hieu-qua-du-an